Đặt vấn đề
Việc khai thác và ứng dụng năng lượng nguyên tử trong khoa học và đời sống đang phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia trên thế giới. Vai trò và lợi ích của chúng ngày càng được khẳng định, đặc biệt là trong lĩnh vực cung cấp năng lượng, ứng dụng trong y tế để chẩn đoán và điều trị bệnh, trong công nghiệp, nông nghiệp và môi trường… Nghệ An là một tỉnh có diện tích rộng, nhiều khoáng sản, dân cư phân bố trên nhiều địa hình phức tạp, kinh tế xã hội đang ngày càng phát triển. Trong tương lai, các cơ sở bức xạ [4], tiến hành công việc bức xạ cũng như số lượng nguồn bức xạ của tỉnh sẽ không ngừng tăng lên. Đây là một thách thức đang đặt ra với Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) là cơ quan quản lý nhà nước về an toàn bức xạ (ATBX) của tỉnh, đòi hỏi bản thân mỗi cơ sở tiến hành công việc bức xạ (THCVBX) cũng như Sở KH&CN cần nâng cao kiến thức về an toàn và kiểm soát bức xạ. Trước vấn đề cấp thiết đó, thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh Nghệ An, Sở KH&CN Nghệ An đã phối hợp với Công ty Ứng dụng và Phát triển công nghệ thuộc Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam thực hiện đề tài “Điều tra, đánh giá và xây dựng bản đồ phông phóng xạ tự nhiên và cơ sở bức xạ ion hoá trên địa bàn tỉnh Nghệ An”. Đề tài được triển khai từ tháng 8/2008 - 10/2009 và đã thu được những kết quả ban đầu quan trọng. Bài viết này đưa ra một số nhận xét đánh giá về phông phóng xạ tự nhiên tại Nghệ An được sinh ra do các nguồn phóng xạ tự nhiên và do các cơ sở bức xạ ion hóa trên địa bàn tỉnh. Các tác nhân khác có thể có đóng góp vào mức phông phóng xạ môi trường của Nghệ An nhưng không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài nên sẽ được đề cập trong một bài viết khác.
Các đối tượng chính trong quá trình nghiên cứu này tập trung ở các cơ sở y tế, cơ sở công nghiệp có sử dụng nguồn bức xạ, khu vực có nguồn phóng xạ tự nhiên tại các xã của một số huyện Quỳnh Lưu, Quỳ Hợp và Nghĩa Đàn. Trên cơ sở các số liệu thu thập được, xây dựng các biện pháp, kế hoạch nhằm tăng cường công tác quản lý ATBX, ứng phó sự cố bức xạ sao cho tương thích và hoà nhập với kế hoạch ứng phó tổng thể quốc gia. Ngoài ra, nhóm thực hiện đề tài còn thiết lập bản đồ số hoá thông tin nhiều lớp cắt về ATBX của tỉnh Nghệ An giúp cho cán bộ quản lý của Sở KH&CN có thể dễ dàng quản lý, bổ sung thông tin ATBX của các cơ sở THCVBX trong tỉnh.
Tiêu chí và nội dung thực hiện
Tại các cơ sở y tế, công nghiệp và đào tạo: kiểm tra, đo suất liều gamma, đánh giá an toàn các nguồn bức xạ (nguồn phóng xạ, các thiết bị phát bức xạ) đang hoạt động, đo phông phóng xạ môi trường xung quanh, kiểm tra mức độ đảm bảo ATBX của phòng đặt thiết bị phát bức xạ, các kho nguồn và khu vực có chứa nguồn phóng xạ…; Tại các khu vực nghi ngờ có nguồn phóng xạ tự nhiên: đo suất liều bức xạ gamma trong không khí cách mặt đất 1m.
Lấy mẫu phân tích, xác định hàm lượng các đồng vị phóng xạ tự nhiên uran (214Pb, 214Bi), Thori (208Tl, 228Ac), 40K, và 137Cs trong đất tự nhiên và đất làm vật liệu xây dựng bằng phương pháp phân tích phổ gamma [3].
Lấy mẫu phân tích, xác định tổng hoạt độ phóng xạ anpha (a) và beta (b) trong nước sinh hoạt theo các TCVN [10,11,12].
Lấy mẫu phân tích hàm lượng radon trong không khí ngoài trời theo phương pháp đo gián tiếp qua các đồng vị con cháu của Radon (RadA, RadB, RadC: Các sản phẩm phân rã sống ngắn của Ra-222: Po-218 (RaA), Bi-214 (RaC), Pb-214 (RaB) và Po-214 (RaC’)) [3].
Căn cứ vào các tiêu chí xét duyệt đề tài và căn cứ khoa học trong tài liệu “Tài nguyên khoáng sản Nghệ An 2005 - mục II.7, trang 8”, các điểm được lựa chọn đo phông và lấy mẫu là các điểm nằm trong vùng cần đánh giá phông tự nhiên và có khả năng có dị thường phóng xạ, nằm trên dải địa chất kéo dài từ Quỳnh Lưu qua Nghĩa Đàn lên Quỳ Hợp. Do vậy, 3 huyện này được quan tâm nhiều hơn. Để có thể đánh giá phông phóng xạ do nguồn bức xạ ion hoá từ các cơ sở có nguồn bức xạ đưa vào tự nhiên, các cơ sở công nghiệp có sử dụng nguồn bức xạ cũng được đưa vào diện đo và lấy mẫu. Tất cả các điểm đo, lấy mẫu đều được ghi lại địa danh, toạ độ, ngày giờ và điều kiện đo/lấy mẫu… Việc lấy mẫu, đo đạc được tập trung thực hiện trên những khu vực có khả năng có nguồn phóng xạ tự nhiên gây ra mức phông phóng xạ cao nhất (chủ yếu ở 3/20 huyện, thị của tỉnh Nghệ An) và một số mẫu đất, khí, nước tại các nhà máy xi măng (Nhà máy xi măng Hoàng Mai, Cầu Đước, 12/9) là nơi tiếp nhận nguyên liệu từ nhiều nơi, đặc biệt là đất - nguyên liệu có thể chứa hàm lượng phóng xạ tự nhiên và tiếp tục đưa vào trong vật liệu xây dựng để xây dựng các công trình làm nhà ở và sinh hoạt.
Kết quả đạt được
* Thông tin điều tra về ATBX được tổng hợp trong bảng 1.
Bảng 1. Thông tin về ATBX của các cơ sở bức xạ tỉnh Nghệ An
Thông tin ATBX | Đến 6/2008 | Đến 9/2009 | T.hợp 9/2009 |
T.số | Cp | Kp | Số CS đã có | Cp | Kp | Thành lập mới | T.số | Cp | Kp |
Co TT | Ko TT | T.số | Cp | Kp |
Y tế | 64 | 28 | 36 | 63 | 33 | 15 | 15 | 8 | 8 | 0 | 71 | 41 | 30 |
CN - ĐT | 5 | - | - | 5 | 4 | 1 | 0 | 5 | 4 | 1 |
Cộng | 69 | 28 | 36 | 68 | 37 | 31 | 8 | 76 | 45 | 31 |
Ghi chú: T.số: Tổng số cơ sở tiến hành công việc bức xạ; Cp: Có phép (cơ sở đã có Giấy phép THCVBX); Kp: Không phép (cơ sở chưa có Giấy phép THCVBX); Co TT: Có các thông tin về ATBX; Ko TT: Không có các thông tin về ATBX.
* Các kết quả do đề tài điều tra và Sở KH&CN thẩm định cấp phép được tổng hợp trong bảng 2.
Bảng 2. Số liệu điều tra các cơ sở tiến hành công việc bức xạ tại Nghệ An
CSBX | Hình thức quản lý | Giấy phép THCVBX | Loại nguồn bức xạ | NVBX | Phụ trách ATBX | Đào Tạo về ATBX | Liều Kế cá nhân | Tiêu chuẩn ATBX |
NN | TN | Có (MT) | K | XQ | CT | PX | Có | K | Có | K | Có | K | Đạt | Ko Đạt |
Y tế | 21 | 35 | 41 | 15 | 75(5) | 2 | 0 | 119 | 56 | 0 | 92 | 27 | 34 | 85 | 51 | 5 |
CN-ĐT | 2 | 3 | 4 | 1 | 3(1) | 0 | 18 | 30 | 5 | 0 | 16 | 14 | 7 | 23 | 5 | 0 |
CỘNG | 23 | 38 | 45 | 16 | 78(6) | 2 | 18 | 149 | 61 | 0 | 108 | 41 | 41 | 108 | 56 | 5 |
Tỷ lệ % | 38 | 62 | 74 | 26 | (8) | | | | 100 | | 73 | 27 | 27 | 73 | 92 | 8 |
Ghi chú: (MT): Miễn trừ khai báo.
* Đánh giá phông môi trường tại một số điểm, khu vực nghi ngờ có phóng xạ: Đo trường gamma tại 75 điểm (75 tọa độ) của 25 khu vực; Phân tích 15 mẫu đất, 31 mẫu nước và 14 mẫu khí (Kết quả phân tích trong các bảng trình bày trong Báo cáo kết quả thực hiện, từ trang 17-26) [1].
Nhận xét đánh giá về ATBX
Hiện trạng ATBX tại các cơ sở tiến hành công việc bức xạ
Kết quả điều tra cho thấy hầu hết các cơ sở đều chấp hành tốt các quy định về ATBX: có biển báo nguy hiểm, các cửa che chắn đúng quy định, đã đáp ứng được yêu cầu đảm bảo ATBX theo tiêu chuẩn TCVN 6561:1999 và CV 1092:2002. Kiểm tra suất liều bên ngoài các phòng chứa thiết bị bức xạ khi đang hoạt động đều cho kết quả từ 0,3-0,5 µSv/h. Bên cạnh đó, vẫn còn một số cơ sở chưa thực sự làm tốt việc che chắn đảm bảo ATBX, các cửa che chắn vẫn còn hở, lá chì mỏng, vì vậy các tia bức xạ vẫn lọt ra ngoài khi để máy ở chế độ hoạt động. Đo suất liều bức xạ tại các phòng đặt máy cho thấy, 5/21 cơ sở đang đăng ký hoạt động nhưng chưa có giấy phép trong tình trạng rò bức xạ vượt quá mức cho phép so với tiêu chuẩn (kiểm tra tháng 7/2009). Ở một số cơ sở có sử dụng các nguồn phóng xạ như 137Cs, 60Co, việc bảo quản các nguồn phóng xạ cũng được thực hiện nghiêm chỉnh và đảm bảo ATBX.
Hiện trạng phông phóng xạ môi trường
a./ Phông phóng xạ
Phông phóng xạ trên địa bàn các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, TP Vinh, thị xã Cửa Lò đều có giá trị trung bình từ 0,15-0,25 µSv/h, phù hợp với các tiêu chuẩn cho phép của phông môi trường. Tuy nhiên, một vài địa điểm tại xã Yên Hợp, huyện Quỳ Hợp có suất liều gamma cao hơn 2 lần giá trị phông môi trường trung bình của các nơi khác. Các kết quả đo đạc ghi nhận giá trị phông tại khu vực này từ 0,3-0,7 µSv/h nhưng vẫn nằm trong giới hạn cho phép về ATBX (giới hạn cho phép là gấp 10 lần giá trị phông môi trường, tương đương 2 µSv/h) do đây là khu vực có các mỏ quặng monazit (theo tài liệu của Cục Địa chất khoáng sản - 2005) [2].
b./ Kết quả phân tích mẫu đất và nước mặt tại các khu vực tỉnh Nghệ An
Các mẫu đất và nước được lấy tại một số khu vực trên địa bàn tỉnh Nghệ An để xác định sự nhiễm xạ và ô nhiễm phóng xạ vào môi trường. Các kết quả phân tích đều cho thấy không có sự nhiễm xạ và ô nhiễm phóng xạ vào môi trường. Từ các hoạt độ của các đồng vị 214Pb, 214Bi, 228Ac, 208Tl, 40K, đã tính toán được hoạt độ của các đồng vị phóng xạ 238Uran, và 232Th, 40K là những đồng vị phóng xạ có trong tự nhiên. Các kết quả phân tích mẫu đất cho thấy hoạt độ phóng xạ của các đồng vị phóng xạ có trong tự nhiên cũng chỉ nằm trong giới hạn cho phép.
Kết quả phân tích các mẫu nước về tổng hoạt độ anpha, beta cũng cho kết quả thấp hơn giới hạn cho phép theo TCVN 5502-2003: tổng hoạt độ anpha < 3pCi/lit (0,11Bq/lit); tổng hoạt độ beta < 30pCi/lit (1,11Bq/lit). Vì vậy không có sự ô nhiễm phóng xạ trong các nguồn nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
Kết quả đo phân tích xạ khí radon trong không khí cũng cho kết quả nằm dưới giá trị tiêu chuẩn cho phép rất nhiều (theo tiêu chuẩn quốc tế BSS 115 nồng độ radon cho phép trong nhà là 150Bq/m3).
c/ Phông phóng xạ tại cơ sở có sử dụng nguồn bức xạ ion hoá
Phân tích các mẫu đất, nước và kết quả đo trường gamma phông môi trường tại một số cơ sở THCVBX đã không phát hiện thấy nơi nào có kết quả sai khác nhiều so với kết quả cùng loại tại các khu vực khác được lấy mẫu. Có thể thấy phông môi trường tại các cơ sở bức xạ này cũng nằm trong mức phông môi trường chung của tỉnh Nghệ An, chứng tỏ không có sự đưa (xả thải) phóng xạ vào trong môi trường của các nguồn bức xạ ion hoá từ các cơ sở THCVBX.
Có thể nhận xét rằng hiện trạng ATBX trên địa bàn tỉnh Nghệ An là khá tốt, không có sự ô nhiễm phóng xạ môi trường, các cơ sở sử dụng nguồn bức xạ đều đảm bảo tốt các quy định chung về ATBX.
Kết luận
Chương trình “Điều tra, đánh giá và xây dựng bản đồ phông phóng xạ tự nhiên và cơ sở bức xạ ion hoá trên địa bàn tỉnh Nghệ An” đã thu được những kết quả bước đầu quan trọng, có ý nghĩa khoa học và xã hội thiết thực, kịp thời giúp cho tỉnh nắm bắt được hiện trạng ATBX và công tác quản lý ATBX trên địa bàn tỉnh, từ đó có thể thay đổi, cải tổ lại hình thức quản lý sao cho thích hợp với tình hình phát triển kinh tế và định hướng được các nhiệm vụ khoa học cần thực hiện trong những năm tiếp theo./.
TS. Nguyễn Thanh Tùy - Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam
TS. Trần Xuân Bí - Giám đốc Sở KH&CN Nghệ An
Tài liệu tham khảo:
[1] “Điều tra, đánh giá và xây dựng bản đồ phông phóng xạ tự nhiên và cơ sở bức xạ ion hoá trên địa bàn tỉnh Nghệ An” - Báo cáo tổng kết kết quả thực hiện của đề tài, Sở KH&CN Nghệ An, tháng 10/2009.
[2] “Tài nguyên khoáng sản tỉnh Nghệ An” - 2005, Cục Địa chất khoáng sản Việt Nam.
[3] IAEA Safety Series Number 115, Tiêu chuẩn an toàn quốc tế cơ bản “Bảo vệ bức xạ ion hoá và an toàn đối với nguồn bức xạ”, Vienna 1996.
[4] Luật Năng lượng nguyên tử, Luật số 18/2008-QH12.
[5] TCVN - 6869:2001 An toàn bức xạ - chiếu xạ y tế - quy định chung.
[6] TCVN - 6561:1999 An toàn bức xạ ion hoá tại các cơ sở X-quang y tế.
[7] TCVN - 6866:2001 An toàn bức xạ - Giới hạn liều đối với nhân viên bức xạ và dân chúng.
[8] TCVN - 6868:2001 An toàn bức xạ - Quản lý chất thải phóng xạ - phân loại chất thải phóng xạ.
[9] CV-1092:2002 Cấp phép và đo an toàn bức xạ các cơ sở y tế.
[10] Tiêu chuẩn TCVN 5502:2003 Giới hạn hoạt độ anpha, beta tổng trong nước ngọt.
[11] Tiêu chuẩn TCVN 6219:1995 Chất lượng nước - đo tổng hoạt độ phóng xạ beta trong nước không mặn.
[12] Tiêu chuẩn TCVN 6053:1995 Chất lượng nước - đo tổng hoạt độ phóng xạ anpha trong nước không mặn - phương pháp nguồn dầy.