Vụ Hè Thu - mùa năm 2009, ở tỉnh ta xuất hiện hiện tượng bệnh “lạ” làm cho cây lúa bị vàng, lùn và lụi dần, do chưa rõ nguyên nhân nên bước đầu được gọi là “lùn lụi”. Ngày 2/9/2009, UBND tỉnh Nghệ An đã có quyết định số 4430/QĐ-UBND-ĐT về việc công bố dịch “lùn, lụi” hại lúa trên địa bàn tỉnh.
1. Về diễn biến của dịch bệnh trong vụ Hè Thu - mùa 2009
- Trên vụ lúa Hè Thu: Vào trung tuần tháng 6, tại một số địa phương của huyện Yên Thành, Diễn Châu, Quỳnh Lưu xuất hiện lứa rầy lưng trắng, rầy nâu với mật độ rất cao. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đã chỉ đạo Chi cục Bảo vệ thực vật hướng dẫn các địa phương tổ chức phòng trừ có hiệu quả. Tuy nhiên sau khi phòng trừ các lứa rầy lưng trắng, rầy nâu từ giữa tháng 6 đến cuối tháng 7, trên đồng ruộng xuất hiện hiện tượng lùn lụi, lúc đầu chỉ ở một số xã Hồng Thành, Thọ Thành (huyện Yên Thành); Diễn Thắng, Diễn Thái, Diễn Minh (huyện Diễn Châu); Quỳnh Ngọc, Quỳnh Yên (huyện Quỳnh Lưu) với diện tích ban đầu khoảng 300ha, sau đó tiếp tục lan ra nhiều địa phương khác với tốc độ rất nhanh. Đến ngày 31/7/2009, toàn tỉnh có 5 huyện bị dịch hại với diện tích 1.000ha; đến 20/8/2009 diện tích tăng lên 2.958ha; đến ngày 31/8/2009 toàn tỉnh có 4.034,6ha bị hại nặng, trong đó mất trắng 2.210,2ha.
- Trên lúa mùa: Vào cuối tháng 7, đầu tháng 8, bệnh bắt đầu gây hại ở các xã Phúc Sơn, Long Sơn, Hội Sơn (huyện Anh Sơn); xã Nghĩa Phúc, Hương Sơn, Công ty Nông nghiệp An Ngãi (huyện Tân Kỳ) với diện tích bị nhiễm ban đầu khoảng 70ha, sau đó bệnh phát sinh ra nhiều địa phương khác với tốc độ rất nhanh. Đến ngày 31/8/2009, toàn tỉnh đã có 7 huyện bị dịch hại với diện tích 1.472ha, dự kiến mất trắng 1.300ha; đến ngày 08/9/2009 tăng lên 10 huyện với tổng diện tích 2.986,5ha, trong đó có 1.799,3 ha bị hại nặng; đến ngày 20/9/2009 tăng lên 15 huyện với diện tích 5.545,46ha, trong đó bị nặng 3.120,7ha; đến ngày 22/10 tăng lên 17 huyện với diện tích 9.423,62ha, trong đó diện tích bị hại nặng là 6.446,94ha.
Bệnh được ghi nhận ở hầu hết các giống đang gieo trồng hiện nay ở Nghệ An như: TH 3-3, Bio 404, Q.ưu 1, Q.ưu 6, Nhị ưu 838, Nhị ưu 986, Khải phong, Bắc ưu 903, Hương thơm số 1, Bắc Thơm số 7, Vật tư-NA1, Xi 23, Khang dân 18, Dương quang 18...
Nghệ An là tỉnh đầu tiên ở phía Bắc xuất hiện bệnh, đến nay bệnh đã phát sinh gây hại ra 18 tỉnh ở Miền Bắc. Trước tính chất phức tạp của vấn đề, được sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ NN&PTNT, các nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu trong và ngoài nước đã tập trung nghiên cứu xác định nguyên nhân gây bệnh. Sau một thời gian nghiên cứu, ngày 21/10/2009 Bộ NN&PTNT đã có chỉ thị số 3420/CT-BNN-BVTV về việc tăng cường công tác phòng trừ bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá trên lúa ở phía Bắc. Chỉ thị nêu tác nhân gây bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá, đến thời điểm hiện nay được xác định là do vi rút gây bệnh vàng lùn và vi rút gây bệnh lùn xoắn lá (kết quả xét nghiệm của Viện nghiên cứu lúa Quốc Tế - IRRI và Cục Bảo vệ thực vật) và vi rút gây bệnh lùn sọc đen (kết quả nghiên cứu của Viện Bảo vệ thực vật).
Như vậy về tên gọi của bệnh và tác nhân gây bệnh còn có nhiều quan điểm khác nhau. Tuy nhiên, tất cả đều khẳng định đây là là loại bệnh cực kỳ nguy hiểm chưa có thuốc phòng trừ, việc phòng trừ chỉ tập trung vào tiêu huỷ nguồn bệnh và phòng trừ rầy môi giới.
2. Tìm hiểu về bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá và lùn sọc đen
* Bệnh vàng lùn (VL), lùn xoắn lá (LXL)
- Triệu chứng:
+ Bệnh vàng lùn (vi rút lúa cỏ): làm cây lúa lùn, chiều cao cây không đồng đều trên cùng một ruộng, mọc nhiều chồi; lá xoè ngang, ngắn, nhỏ cứng, xanh vàng hoặc da cam, trên lá có nhiều đốm gỉ sắt, sau đó chuyển nhanh sang màu vàng, khô lụi từng đám lúa hoặc cả ruộng; rễ lúa phát triển bình thường. Nếu bệnh phát sinh muộn, lúa trổ bị nghẽn đòng.
+ Bệnh lùn xoắn lá: làm cây lúa bị lùn, màu lá xanh đậm; rìa lá bị rách và gợn sóng, dọc gân lá có bướu, chóp lá biến dạng, xoăn tít; lúa không trổ được hoặc bị nghẽn đòng, hạt lép.
Trên ruộng thường xuất hiện cùng lúc 2 bệnh trên (VL và LXL).
- Tác nhân gây bệnh: Bệnh vàng lùn do virus có tên Rice Grassy Stunt Virus (RGSV) gây ra. Bệnh lùn xoắn lá do virus Rice Ragged Stunt Virus (RRSV) gây ra. Rầy nâu là môi giới truyền bệnh.
- Quá trình gây bệnh:
+ Rầy nâu khi chích hút nhựa cây lúa (kể cả lúa chét) bị bệnh VL hoặc bệnh LXL trong thời gian ít nhất 30 phút đến 6 giờ (đối với vi rút gây bệnh VL), ít nhất 4-24 giờ (đối với vi rút gây bệnh LXL) sẽ nhiễm vi rút gây bệnh.
+ Giai đoạn ủ bệnh: Sau khi rầy nâu nhiễm vi rút, thời gian ủ bệnh ở rầy nâu đối với vi rút gây bệnh VL là 5-25 ngày (trung bình 10 ngày) hoặc từ 3-35 ngày đối với vi rút LXL (trung bình 9 ngày).
+ Rầy nâu truyền vi rút khi chích hút cây lúa khỏe: Qua thời gian ủ bệnh, rầy nâu mang vi rút khi đến chích hút cây lúa khỏe khác trong vòng 5-15 phút là đủ truyền vi rút gây bệnh VL hoặc 1-6 giờ đối với truyền vi rút gây bệnh LXL. Do vi rút gây bệnh vàng lùn có đặc điểm truyền bệnh nhanh nên mức độ gây hại thường nghiêm trọng hơn.
+ Giai đoạn ủ bệnh trong cây lúa: Thời gian ủ bệnh ở cây lúa (từ lúc cây lúa bị nhiễm vi rút do rầy nâu truyền đến khi phát ra triệu chứng) là 10-20 ngày đối với vi rút gây bệnh VL, hoặc 14-21 ngày đối với vi rút gây bệnh LXL. Rầy nâu sau khi nhiễm vi rút có thể truyền bệnh đến khi chết. Vi rút gây bệnh không lan truyền qua trứng rầy, đất, nước, không khí mà chỉ sống và tồn tại trong mô cây sống và trong cơ thể rầy.
* Bệnh Vi rút lúa lùn sọc đen dòng 2
- Ở các nước trong khu vực: Bệnh gây hại tại Quảng Đông và đảo Hải Nam - Trung Quốc từ năm 2001 đến nay. Theo GS.TS.Zhou Gouhui - Chuyên gia vi rút lúa tại Đại học Nông nghiệp Hoa Nam thì bệnh ngày càng trầm trọng ở hai vùng lúa kể trên và dự báo bệnh sẽ lây lan đến các vùng trồng lúa khác trong và ngoài Trung Quốc.
Ở trong nước: Bệnh đã phát sinh gây hại tại các tỉnh Nghệ An, Thanh Hoá, Sơn La, Quảng Ninh, Bắc Giang, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình...
- Triệu chứng: Cây thấp lùn, màu lá và thân xanh đậm hơn bình thường, lá xoắn, có u sưng và sọc đen trên thân, bẹ lá. Bị bệnh sớm, cây thấp lùn. Bị bệnh muộn, cây phát triển bình thường nhưng không trổ bông được. Bị bệnh nặng, lúa không trổ, nghẽn đòng, hạt lép.
- Tác nhân gây bệnh: là một loại vi rút mới lần đầu tiên ghi nhận gây hại trên lúa ở nước ta có tên là RBSDV-2 (vi rút lúa lùn sọc đen dòng 2) hay vi rút lúa lùn sọc đen phương Nam (SRBSDV) thuộc nhóm Fijivirus-2, họ Reoviridea.
- Môi giới truyền bệnh: Do rầy lưng trắng.
3. Biện pháp phòng chống dịch bệnh
Với quan điểm phòng chống dịch bệnh là trách nhiệm của toàn dân, của cả hệ thống chính trị trên tinh thần toàn diện, triệt để và cấp bách, tỉnh Nghệ An đã đề ra các giải pháp phòng chống sau:
* Giải pháp về hành chính: Thành lập Ban chỉ đạo chống dịch từ tỉnh đến huyện, xã, thôn, bản... để đốc thúc, chỉ đạo, hướng dẫn nông dân thực hiện nghiêm các biện pháp chống dịch theo phương án của Sở NN&PTHT. Hiện đã có 20/20 huyện, thành phố, thị xã có dịch bệnh thành lập Ban chỉ đạo các cấp.
* Giải pháp về tập huấn, tuyên truyền: Đây là loại dịch bệnh mới, hiểu biết về bệnh của không những nông dân mà phần lớn cán bộ nông nghiệp trong tỉnh còn hạn chế. Vì vậy, trên cơ sở kết quả nghiên cứu được và các tài liệu khoa học đã công bố, Sở NN&PTNT cùng Chi cục Bảo vệ thực vật đã xây dựng phương án phòng chống, tài liệu tập huấn, tiến hành tập huấn cho toàn bộ cán bộ làm nông nghiệp từ tỉnh đến huyện, xã và các ban ngành liên quan để làm giảng viên và là lực lượng nòng cốt cho công tác chỉ đạo chống dịch (đến đầu tháng 10/2009, số lượng cán bộ được tập huấn cấp tỉnh là 50 người, cấp huyện, xã gần 1.000 người). Hiện nay, số lượng cán bộ giảng viên này đã triển khai tập huấn đến tận các thôn bản, cho hàng chục vạn lượt nông dân với phương thức tập huấn tại ruộng (khuyến nông 2 chiều). Song song với công tác tập huấn, Sở NN&PTNT, Chi cục Bảo vệ thực vật, các địa phương thường xuyên phối hợp với hệ thống thông tin đại chúng, đài phát thanh truyền hình, báo Nghệ An, các báo Trung ương thường trú tại nghệ An để đưa tin tuyên truyền về tác hại của bệnh, về chủ trương chính sách của Nhà nước và kết quả của công tác phòng chống dịch để dân được biết và thực hiện.
* Giải pháp về kỹ thuật:
- Trong năm 2009:
+ Tiêu huỷ nguồn bệnh: Do vi rút chỉ tồn tại được trên cây lúa sống, lúa chét và có thể trên cây ký chủ khác nên cần phải tập trung tiêu huỷ hết nguồn bệnh có trên đồng. Trên diện tích lúa Hè Thu bị bệnh, sau khi thu hoạch dùng máy dập dập kỹ hoặc cày lật, vùi lấp gốc rạ ngay không cho lúa chét mọc, bón vôi và cho nước ngập ngâm ải đất (nơi đất khô chưa cày được, dùng liềm cắt sát gốc rạ đem phơi khô rồi đốt hoặc ủ phân, khi đủ điều kiện thì cày vùi gốc rạ). Đối với diện tích lúa mùa chưa thu hoạch, trên diện tích bị nhiễm bệnh nặng thực hiện tiêu huỷ ngay như diện tích lúa Hè Thu; trên diện tích bị bệnh nhẹ dùng liềm cắt hết những bụi lúa bị bệnh đem tiêu huỷ, sau khi thu hoạch dùng máy dập hoặc cày vùi gốc rạ không cho lúa chét mọc (chú ý: trước khi tiêu hủy lúa, kiểm tra rầy nếu có mật độ cao thì dùng thuốc phun diệt sau đó mới tiêu huỷ). Những vùng có diện tích chưa bị bệnh cũng phải thực hiện cày dập vùi lấp gốc rạ không cho lúa chét mọc (xong trước 30/11/2009).
+ Vệ sinh đồng ruộng: Rầy môi giới có thể tồn tại trên lúa chét, cây ký chủ phụ mọc ở trên bờ ruộng, mương máng, ao hồ..., do vậy phải tiến hành vệ sinh sạch đồng ruộng, sơn bờ, phát quang bờ bụi..., hạn chế nơi cư trú của rầy.
+ Thiết lập hệ thống bẫy đèn tại các trạm Bảo vệ thực vật huyện để theo dõi sự di trú vào đèn của các loài rầy phục vụ công tác chỉ đạo gieo trồng né rầy (thường 1 tháng có một đợt rầy ra rộ kéo dài 5-7 ngày, để né rầy cần gieo sạ sau khi đỉnh cao rầy vào đèn, như vậy cây lúa non sẽ tránh được rầy trưởng thành di trú truyền bệnh) và dự báo thời gian phát sinh của lứa rầy sau để chủ động và chuẩn bị các điều kiện cho công tác phun trừ rầy môi giới hạn chế lây lan bệnh.
- Vụ Xuân 2010:
+ Chuẩn bị giống, gieo mạ, bảo vệ mạ: Dùng giống có chất lượng tốt, khuyến khích dùng giống kháng rầy (nếu có), loại bỏ giống nhiễm rầy nặng, không dùng thóc thịt làm giống. Căn cứ khung thời vụ để ra giống và nên ra giống tập trung (tránh cấy nhiều trà với thời gian kéo dài trên đồng). Thực hiện xử lý giống bằng thuốc hoá học như sau: ngâm ủ hạt giống đã nảy mầm, trước khi gieo rải giống ra bạt, bì..., dùng 5ml thuốc Cruiser plus 312,5FS pha trong 0,5-1lít nước phun và trộn đều cho 20kg giống, 6-8 giờ sau đem gieo; thuốc ENALDO 40FS lượng 12ml hoà loãng thuốc 3-4 lần rồi trộn đều với 15-20kg hạt giống sau khi ủ đã nứt nanh và ủ tiếp như bình thường đến khi gieo. Xử lý giống là khâu quan trọng bảo vệ lúa ở giai đoạn đầu, có thể bảo vệ được từ 10-15 ngày sau gieo. Sau khi gieo, dùng màn hoặc nilon che phủ kín ngay không cho rầy xâm nhập, tiếp xúc với mạ ngay từ đầu. Trường hợp dùng nilon che phủ nếu gặp thời tiết nóng, nhiệt độ cao có thể mở ra vào ban ngày nhưng phải che phủ lại trước 5 giờ chiều hàng ngày.
+ Thực hiện gieo cấy, chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật, cấy mật độ vừa phải, bón phân cân đối hợp lý theo nhu cầu của cây, hạn chế tối đa việc bón thừa đạm... Đẩy mạnh việc ứng dụng chương trình SRI (hệ thống canh tác lúa cải tiến), ICM (3 giảm 3 tăng), IPM (quản lý dịch hại tổng hợp)... Không sử dụng ruộng mạ bị nhiễm bệnh đem cấy.
+ Phòng trừ rầy môi giới: Thường xuyên theo dõi sự xuất hiện rầy trên đồng ruộng (ruộng mạ và ruộng lúa cấy) để tiến hành phun thuốc phòng trừ kịp thời. Việc phun thuốc được thực hiện như sau: Giai đoạn từ cấy đến đứng cái làm đòng (khoảng 50-60 ngày - giai đoạn này nếu bị rầy truyền virus thì khả năng phát bệnh rất cao) kiểm tra nếu thấy rầy xuất hiện phải phun trừ ngay. Giai đoạn từ làm đòng về sau kiểm tra khi thấy rầy tuổi 3-4 đến trưởng thành có mật độ 3-4 con/dảnh lúa thì phun diệt không để rầy phát triển, gây cháy rầy. Khi sử dụng thuốc phải tuân thủ nguyên tắc 4 đúng (đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng lúc và đúng cách).
Việc phun thuốc trừ rầy chống dịch vàng lùn, lùn xoắn lá chỉ nên dùng những loại thuốc có tác dụng tiếp xúc, vị độc và lưu dẫn (nhằm đảm bảo cho rầy chết ngay và kéo dài thời gian diệt rầy mới có tác dụng không cho rầy truyền vi rút sang cây lúa khoẻ) như: hoạt chất Imidacloprid (Confidor 700WP, Conphai 15WG... - thuốc tác dụng tiếp xúc, vị độc và lưu dẫn); hoạt chất Dinotefuran (Oshin 20WP - thuốc có tác dụng tiếp xúc, vị độc, lưu dẫn hướng ngọn); hoạt chất Clothianidin (Dantotsu 16WSG - thuốc tác dụng tiếp xúc, vị độc, lưu dẫn hướng ngọn); hoạt chất Nitenpyram (Elsin 10EC); hoạt chất Buprofezin + Chlorpyrifos Ethyl (Penalty gold 50EC)... hoặc hỗn hợp của các hoạt chất trên. Những loại thuốc có tác dụng điều tiết sinh trưởng, tiếp xúc chỉ nên dùng vào giai đoạn sau từ lúa trổ trở đi như: hoạt chất sau Buprofezin (Applaud 10WP, Map-judo 25WP - thuốc điều tiết sinh trưởng côn trùng); hoạt chất Fenobucarb (bassa 50EC, Nibas 50EC... - thuốc tác dụng tiếp xúc, vị độc). Chú ý: không được sử dụng thuốc có gốc Cúc tổng hợp (Pyrethroids và lân hữu cơ) trong giai đoạn này để tránh làm chết thiên địch, gây bột phát quần thể rầy.
+ Tiêu huỷ nguồn bệnh: Khi thực hiện các biện pháp trên mà trên đồng vẫn bị bệnh thì phải tiến hành tiêu huỷ lúa bị bệnh theo quy định của Bộ NN&PTNT. Giai đoạn lúa mới gieo cấy đến 40 ngày, nếu bị nhiễm trên 10% số khóm thì tiến hành cày vùi hoặc dập cả ruộng. Trước lúc cày vùi, kiểm tra rầy nếu có mật độ cao thì phun diệt rầy trước rồi mới cày dập, tránh lây lan bệnh. Ruộng bị bệnh nhẹ từ rải rác đến dưới 10% thì chỉ nhổ bỏ khóm lúa bị bệnh đem vùi dưới đất, không bỏ cây lúa bệnh lên trên bờ. Giai đoạn từ sau gieo sạ 40 ngày trở đi phải thường xuyên kiểm tra, nếu thấy khóm lúa bệnh thì nhổ bỏ tiêu huỷ, nếu bị nặng thì phải tiêu huỷ cả ruộng hạn chế lây lan bệnh./.
Nguyễn Đình Hương - Chi cục BVTV Nghệ An