Đào tạo những con người năng động, sáng tạo là yêu cầu ngày càng được xã hội quan tâm nhưng chúng ta lại đang loay hoay vì thiếu giải pháp cụ thể. Kiến thức thì có chương trình, có sách giáo khoa còn “sáng tạo” thì không có giáo trình nào cả. Mà nếu như có giáo trình thì lý luận suông không kèm thực hành cũng dễ làm cho người học chán. Nghiên cứu khoa học (NCKH) chính là hoạt động sáng tạo nhưng lại chưa có vị trí trong các trường phổ thông ngay ở các thầy cô chứ chưa nói đến học trò. Bởi lẽ người ta cho rằng NCKH là loại lao động cao cấp chỉ có thể có ở các trường đại học, các viện nghiên cứu và đã là NCKH thì phải tìm ra được cái “mới” trước đó chưa từng có, tiến bộ hơn cái “cũ”, nghĩa là nó phải thỏa mãn một nhu cầu nào đó mà cái “cũ ” không thỏa mãn được hoặc thỏa mãn rất kém. Nhu cầu ở đây bao gồm cả nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, nhu cầu hiểu biết dù cho sự hiểu biết đó chưa có ứng dụng gì thiết thực trước mắt.
Nhưng dần dần, người ta nhận thấy rằng hoạt động NCKH còn có tác động giáo dục nên những phẩm chất, năng lực theo hướng “năng động sáng tạo”. Vì vậy cần làm sao cho càng nhiều người được hưởng sự giáo dục đó càng tốt, cần hạ thấp yêu cầu “mới đối với nhân loại” xuống yêu cầu “mới đối với nhà nghiên cứu”. Dù cho nhân loại không được gì “mới” nhưng người nghiên cứu trưởng thành lên về phẩm chất và năng lực cần cho nghiên cứu, từ đó hy vọng sẽ có ngày anh ta tìm ra cái “mới” cho nhân loại.
Mặt khác, cũng cần thấy rằng NCKH là một lĩnh vực khó nhưng nếu thấy “khó” rồi ngại “tiếp cận”, “kính nhi viễn chi” rồi cứ giữ định kiến là “khó” thì sẽ không làm được gì. Dạy con hổ mà sợ không dám tiếp cận đến nó từng bước nhỏ một thì sẽ đi đến kết luận “hổ không dạy được”. Có lần, tôi hỏi các giáo viên là học viên cao học ngành toán ở Đại học Sư phạm Hà Nội: “Có bao giờ các anh, các chị dạy cho học sinh rằng một tam giác đồng thời là một tứ giác hay không?” Cả lớp đều lắc đầu. Một người đứng lên hỏi: “Nhưng như vậy thì có ích gì?” Tôi giải thích: Một tam giác ABC đồng thời là một tứ giác ABCA’ trong đó đỉnh A’ trùng với đỉnh A, tức cạnh AA’ = 0. Nếu ta có một định lý Đ trong tam giác ABC thì ta có thể dịch ngay Đ thành một định lý Đ’ trong tứ giác ABCA’. Việc dịch này không khó, học sinh trung học cơ sở (THCS) cũng làm được, miễn là cẩn thận (do tam giác ABC không có đường chéo mà tứ giác ABCA’ có 2 đường chéo là A’B và AC). Dịch xong, ta có Đ’ là một định lý trong một tứ giác đặc biệt. Nó cho ta lờ mờ trông thấy một định lý Đ’’ trong tứ giác bình thường. Để cho rõ, ta cho A’ rời khỏi A, điều gì còn “lờ mờ” trở nên sáng tỏ và ta có ngay trước mắt một bài toán trong tứ giác ABCA’ bình thường. Bài toán này do ta tự ra cho mình, chứ không phải là do thầy hay sách ra. Giải được bài toán đó (cũng bình thường như giải mọi bài toán khác), ta sẽ có những định lý (do tự ta tìm ra) mở rộng định lý Đ về tứ giác. Được hướng dẫn như vậy thì một học sinh THCS cũng có thể tự mình tìm ra nhiều định lý mới đối với anh ta.
Từ năm 1970, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội có chủ trương khuyến khích học sinh phổ thông (chủ yếu là trung học phổ thông) làm cộng tác viên ở những khâu thích hợp cho các đề tài nghiên cứu khoa học của đại học. Thực tiễn cho thấy việc đưa NCKH vào trường phổ thông hoàn toàn phù hợp với tâm lý thích sáng tạo của học sinh: Họ tham gia làm cộng tác viên một cách tự nguyện, hứng thú và thực sự trở thành một lực lượng chuyển giao công nghệ từ trường đại học vào cuộc sống, nhiều nghề mới đã xuất hiện ở một số địa phương mà họ là người đi đầu làm trước với sự hướng dẫn của trường đại học. Nếu cứ tiếp tục lâu dài thì lao động nghiên cứu khoa học sẽ rèn tư duy sáng tạo và tác phong công nghiệp ở họ do trong quá trình lao động khoa học, họ phải nghiêm túc tuân thủ các yêu cầu đề ra cho lao động NCKH như khách quan (làm gì cũng có đối chứng), chính xác (như cân đến miligam, đếm số hạt thóc trên một bông lúa, tính toán giá trị trung bình), và nhờ vậy họ đã có cái hạnh phúc của người đem lại cái mới (ít ra là những thông tin mới cho chủ nhiệm đề tài). Rõ ràng đây là một cách học mới bên cạnh cách học cổ điển.
Một thực tế khác cũng cho thấy tâm lý thích sáng tạo quan trọng như thế nào. Đó là vào năm 1983, khi có chủ trương mới về cách tiến hành bồi dưỡng giáo viên thay sách cải cách giáo dục (khi đó đã thay sách đến lớp 3). Trước đó (khi thay sách ở lớp 1, lớp 2), Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã dùng cách “trên dội xuống” theo trật tự Bộ → Sở → Phòng → Trường (Tiểu học), cấp trên bồi dưỡng cốt cán cho cấp dưới sát mình. Thấy rằng cách đó không hay, trên chỉ đạo xuống, dưới thụ động tiếp thu, tam sao thất bản, đặc điểm của từng địa phương (ở cấp dưới) ít được quan tâm, trường trung học sư phạm là cơ quan đào tạo và bồi dưỡng giáo viên tiểu học lại đứng ngoài, nên Bộ GD&ĐT hồi đó đưa ra chủ trương là: giao cho trường trung học sư phạm mỗi tỉnh nghiên cứu những đề tài theo hướng làm cho chương trình, sách giáo khoa của Bộ phù hợp với đặc điểm tự nhiên và xã hội của địa phương. Nhiều ý kiến phản đối cho rằng trường trung học sư phạm thì nghiên cứu làm sao được, Đại học sư phạm còn chưa thành công nữa là. Nhưng thực tiễn đã chứng minh sự đúng đắn của chủ trương này: chưa có chủ trương nào lại được các trường trung học sư phạm của cả nước hưởng ứng nhiệt liệt như vậy, do nó đã đánh đúng vào tâm lý “thích sáng tạo và chán nếp cũ đường mòn kéo dài” của con người, và cũng do công tác chỉ đạo đã đề ra phương hướng nghiên cứu sát đúng và phù hợp với trình độ các thầy trung học sư phạm. Tâm lý trên có ngay ở các cháu vườn trẻ. Các đồ chơi dù có đẹp, có hay, các cháu chơi mãi cũng chán và khi đó, nếu người lớn không có sự đổi mới thì các cháu sẽ tự tìm cái mới bằng cách thêm các chi tiết vào đồ chơi hay cách chơi đã có, thậm chí sáng tạo ra đồ chơi mới. Ngày nay, người ta cho trẻ mẫu giáo vẽ những bức tranh không theo mẫu, mà chỉ theo vài nét mở đầu của cô giáo rồi tự trẻ hoàn thành bức tranh theo trí tưởng tượng của mình. Ví dụ, cô vẽ một vòng tròn và yêu cầu từng cháu vẽ tiếp để hoàn thành nốt bức tranh theo hứng thú của các cháu: có cháu xem vòng tròn là ông mặt trời thì vẽ thêm tia sáng, có cháu lại cho vòng tròn là quả bóng thì vẽ thêm cái khung thành...
Hiểu như trên thì sáng tạo có rất nhiều thang bậc thích hợp với rất nhiều trình độ khác nhau, từ trình độ của các cháu vườn trẻ đến trình độ của các nhà khoa học lớn. Trước hết, người ta chia thành ba trình độ tùy theo mức độ khái quát của kết quả nghiên cứu: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai (hoặc dưới một dạng hơi khác: nghiên cứu hệ thống hóa, nghiên cứu vấn đề, nghiên cứu thông tin). Nghiên cứu triển khai (như mở rộng thí nghiệm), nghiên cứu thông tin (như điều tra về người mù chữ trong thôn xóm) là những việc thích hợp với học sinh phổ thông. Trong thực tế, mỗi bậc thang lại chia ra nhiều bậc thứ cấp và quản lý giỏi sẽ tìm đúng bậc thang thích hợp cho đối tượng dưới quyền và trong một đề tài có nhiều người tham gia ở những trình độ khác nhau. Ngày nay, với khả năng sáng tạo, học sinh phổ thông còn có thể làm những việc như phát minh ra một định lý, một định luật mới (đối với bản thân).
Nói rộng và xa là như vậy, nhưng rồi phải từ từ đi từng bước. Kinh nghiệm của Đại học Sư phạm Hà Nội là việc đưa nghiên cứu khoa học vào trường phổ thông không khó nếu có sự liên kết Đại học - Phổ thông: chọn các đề tài của đại học có thể và cần triển khai thực hiện ở địa phương trường phổ thông đóng. Chỉ cần nhà trường phổ thông tạo điều kiện cho một bộ phận học sinh nào đó được dùng các giờ ngoại khóa và lao động sản xuất để tham gia theo sự hướng dẫn của trường đại học. Làm được như vậy, trường đại học rất có lợi ở chỗ được nối thêm tay, thêm óc của đông đảo học sinh phổ thông có sẵn tổ chức ở khắp nơi. Các địa phương (huyện, xã) có thể hy vọng tìm thấy ở đây một lực lượng khoa học góp sức vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn. Nhưng đáng tiếc hiện nay, nạn luyện thi, dạy thêm, học thêm tràn lan đang là lực cản lớn của việc đưa NCKH vào trường phổ thông.
Bộ Giáo dục kêu gọi đổi mới cách dạy, cách học đã lâu nhưng thiếu giải pháp cụ thể nên hiệu quả rất thấp. Bài viết này xin đề xuất một giải pháp quan trọng là “đưa nghiên cứu khoa học” vào nhà trường phổ thông cùng với kinh nghiệm bước đầu rút ra từ thực tiễn Việt Nam: đừng nghĩ rằng NCKH là cao, là khó mà NCKH có thể thích hợp với một thang trình độ rất dài từ các vườn trẻ đến các nhà khoa học lớn. Nó tác động đến việc giáo dục nên những con người năng động, sáng tạo. Nó có bạn đồng minh rất lớn là “tâm lý thích sáng tạo, nhàm chán với nếp cũ đường mòn kéo dài” của con người. Để có thể bắt đầu sớm và nhanh, phải có liên kết “dạy nghề, phổ thông”. Hiện nay, một số trường đại học đã chuyển mình tìm cách liên kết với các doanh nghiệp nhưng chưa có trường nào nghĩ đến việc liên kết với giáo dục phổ thông ngoại trừ các hoạt động nghiệp vụ truyền thống của các trường sư phạm./.
GS. VS Nguyễn Cảnh Toàn