Trải qua 50 năm hình thành và phát triển (1959-2009), KH-CN Nghệ An đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội tỉnh nhà. Nhân kỷ niệm 50 năm thành lập ngành KH&CN Nghệ An, Thông tin KH&CN Nghệ An đã có cuộc trò chuyện với ông Trần Văn Danh - Nguyên Giám đốc Sở KHCN&MT tỉnh Nghệ An thời kỳ 1986-1996 về hoạt động của KH-CN tỉnh nhà.
1. Thưa ông, ngành KH-CN Nghệ An đã trải qua 50 năm xây dựng và phát triển. Ông có thể chia sẻ một vài suy nghĩ về chặng đường đó?
Từ khi thành lập đến nay, ngành KH-CN Nghệ An đã không ngừng vận động và trưởng thành, từ hoạt động tuyên truyền là chủ yếu đến nghiên cứu, ứng dụng rộng rãi, sâu sát các tiến bộ KHKT, rồi từ nghiên cứu, ứng dụng theo đề tài, dự án đến những chương trình đồng bộ có mục tiêu, phục vụ phát triển KT-XH theo các kế hoạch 5 năm, 10 năm… với nhiều đề tài cấp bộ, ngành, huyện đến cấp cơ sở (xí nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình). Tất cả vì mục tiêu đưa KHKT vào thực tiễn sản xuất và đời sống, góp phần phát triển KT-XH của tỉnh. Nhìn chung, KH-CN Nghệ An đã phục vụ tốt 4 lĩnh vực cơ bản: Khai thác tài nguyên sinh thái để phát triển Nông - lâm - ngư nghiệp, chế biến nông sản hàng hoá cho tiêu dùng, xuất khẩu; Khai thác và chế biến tài nguyên khoáng sản (gạch, ngói, xi măng…..); Khai thác tài nguyên du lịch - dịch vụ; Phục vụ kỹ thuật chế tạo mới (cơ khí, chế tạo máy…). Đến nay, 4 lĩnh vực đều đạt được nhiều thành tựu, kết quả quan trọng thể hiện ở các dự án, đề tài KH…
Nhìn lại 50 năm hoạt động của ngành KH-CN Nghệ An, có thể thấy từ những bước đi đầu tiên đến hôm nay, các hoạt động KHKT đã góp phần tận dụng, khai thác hiệu quả những tiềm năng sẵn có của tỉnh để sản xuất, nuôi trồng cho sản lượng, năng suất và lợi ích kinh tế cao. Ví dụ như ở lĩnh vực Nông - lâm - ngư nghiệp, các đề tài, dự án đã nghiên cứu được điều kiện sinh thái thổ nhưỡng ở huyện Tân Kỳ rất phù hợp để phát triển trồng mía, và từ kết quả đó lần đầu tiên người nông dân trồng các giống mía đồi ROC1, ROC10 với diện tích trên 100ha, năng suất cao đạt 80tấn/ha, độ đường hơn 12%, rồi mở rộng và hình thành nên vùng mía nguyên liệu hàng ngàn ha ngày ngay. Hay các đề tài, dự án cũng đã điều tra, nghiên cứu và khẳng định được điều kiện sinh thái và tính chất đất ở Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Anh Sơn… để áp dụng hiệu quả các giống cây công nghiệp dài ngày, tiến bộ như các giống chè, cà phê chè catimo, cao su… từ bước đầu mới đáp ứng được nhu cầu trong nước, đến nay đã có thể xuất khẩu… Những kết quả nghiên cứu KH đã được khẳng định trong 50 năm qua chính là tiền đề, nền tảng vững chắc để KH-CN Nghệ An tiếp tục phát triển, đem lại lợi ích và hiệu quả kinh tế thiết thực cho nhân dân cũng như xã hội.
2. Ngành KH-CN có được những thành tựu như hôm nay là nhờ đóng góp của nhiều thời kỳ, trong đó thời kỳ 1986-1996 có thể xem là một mốc quan trọng. Ông có thể khái quát lại hoạt động nghiên cứu, triển khai và áp dụng các TBKHKT vào sản xuất và đời sống trong thời kỳ này?
Vai trò của KH-CN trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã sớm được Đảng và Nhà nước ta khẳng định. Được sự quan tâm, chỉ đạo thường xuyên của các cấp, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành chức năng, sự đóng góp tích cực của tập thể và cán bộ KH-CN trong toàn tỉnh, hoạt động KH-CN Nghệ An thời kỳ 1986-1996 đã không ngừng phát triển và đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, thực hiện được 97 đề tài thuộc các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, KHXH&NV. Có thể kể đến những kết quả nổi bật như: ứng dụng thành công các giống cây trồng, vật nuôi tiến bộ (có năng suất cao, phù hợp với điều kiện sinh thái), trong đó việc ứng dụng các giống lai (lúa lai 1, lai 5, giống ngô Bioseed…) đã tạo nên bước nhảy vọt về năng suất, sản lượng và góp phần chuyển nhanh cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh ta theo hướng sản xuất hàng hoá. Sản lượng lương thực bình quân hàng năm tăng 5,5% (tương đương 2,7 vạn tấn/năm), năm 1995 đạt đỉnh cao là 70 vạn tấn, không những giải quyết được tình trạng thiếu lương thực triền miên trước đây mà còn dư để xuất khẩu. Trong chăn nuôi có các TBKT đáng ghi nhận như: chương trình sind hoá đàn bò; nạc hoá đàn lợn hướng xuất khẩu; ứng dụng các giống gà chuyên trứng, thịt; chế biến thức ăn hỗn hợp cho gia súc, gia cầm… đã tạo nên những chuyển biến đáng kể về sản lượng và hiệu quả chăn nuôi. Việc ứng dụng thành công các TBKT trong công nghiệp cũng đã giúp cho các doanh nghiệp Nghệ An đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và tạo ra những hàng hoá có uy tín trên thị trường trong nước và quốc tế như: hàng dệt kim, thuỷ sản đông lạnh, bia Vida, gạch lò tuy-nen, xi măng PC30, nước mắm, đường kính trắng…
3. Xin ông cho biết quan hệ hợp tác quốc tế về KH-CN trong thời kỳ 1986-1996 đã được quan tâm như thế nào và kết quả ra sao?
Nghệ An đã tiếp cận có hiệu quả với các thành tựu KH-CN quốc tế, khai thác tương đối nhanh thành tựu công nghệ sinh học về giống lai cây con của Trung Quốc, IRRT, Ấn Độ, Nhật, Mỹ, Bắc Âu, Asean… Hiệu quả rất rõ ràng: năng suất tăng 2-3 lần, cho chất lượng hàng hoá tốt. Từ đó, đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý giá trong triển khai KH-CN, thẩm định công nghệ nhập, công nghệ liên doanh, rút ngắn thời gian xây dựng các công nghệ cho sản xuất. Có thể coi quan hệ quốc tế về KH-CN như một tiêu chí quản lý KH-CN để các nhà KH biết mình, biết người nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng quan hệ quốc tế KH-CN phục vụ cho sự nghiệp phát triển sản xuất và cải thiện đời sống.
Hợp tác quốc tế KH-CN là kết quả, sản phẩm của quan hệ quốc tế KH-CN. Thời kỳ này, Nghệ An đã được Tổ chức lương thực thế giới FAO tài trợ Dự án về giống lạc và Dự án tưới nước cho lạc (VIE89-15) với kinh phí hàng trăm USD, góp phần đẩy nhanh thâm canh cây lạc - một sản phẩm xuất khẩu quan trọng của tỉnh; Tổ chức phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tài trợ Dự án VIE 89-027 về đá Marble với kinh phí hơn 1 triệu USD (triển khai từ 1991-1995) đã đánh thức tiềm năng đá Marble của tỉnh, giúp tỉnh điều tra, nắm bắt được các số liệu về tài nguyên đá Marble, trang bị dây chuyền công nghệ hiện đại sản xuất đá ốp lát, đào tạo được hàng trăm công nhân tiếp thu được công nghệ tiên tiến sản xuất các sản phẩm từ đá Marble. Cũng thông qua hợp tác quốc tế mà Ngành ta đã tăng cường được trang thiết bị phục vụ cho hoạt động quản lý; hàng chục cán bộ KH-CN của tỉnh được đi tham quan, học tập tiếp thu kiến thức KH-CN hiện đại ở Hà Lan, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Thụy Điển…
4. Để kế thừa và phát huy hơn nữa những thành quả đã đạt được trong thời gian qua, theo ý kiến của ông, đường hướng phát triển sắp tới của KH-CN Nghệ An là gì?
Thực tế đầu tư công nghệ ở Nghệ An là rất ít. Tỉnh ta đã xuất khẩu được cao su, cà phê… nhưng hiệu quả chưa cao hay vẫn chưa khai thác, tận dụng hết những tiềm năng sẵn có. Ví dụ như kết quả nghiên cứu KH-CN đã khẳng định tỉnh ta có tài nguyên đá vôi, đất sét chất lượng tốt, khối lượng lớn để phát triển công nghiệp xây dựng và xi măng… nhưng muốn phát triển sản xuất hiệu quả trên diện rộng rất cần công nghệ tiên tiến. Vì vậy theo ý kiến cá nhân tôi, KH-CN Nghệ An muốn phát triển hơn nữa cần tập trung vào công nghệ mới. Để làm được điều đó, cần hồ sơ hoá những kết quả nghiên cứu về tài nguyên thiên nhiên, kinh tế xã hội đã làm được trong 50 năm qua thành một tài liệu tổng hợp làm cơ sở thông tin tuyên truyền, quảng bá cho năng lực của địa phương, từ đó tạo độ tin cậy để hợp tác liên doanh với nước ngoài, kêu gọi, thu hút đầu tư để tiếp thu, chuyển giao công nghệ mới. Vì thực tế hiện nay chưa có tài liệu nào tổng kết hiện trạng công nghệ ở Nghệ An, khả năng cạnh tranh như thế nào, có hiệu quả không. Như việc tỉnh ta trước đây chưa có nhà máy thuỷ điện nào để khai thác nguồn tài nguyên nước của địa phương thì đến nay, nhờ ứng dụng công nghệ mới mà toàn tỉnh đã có 11 nhà máy thủy điện lớn nhỏ… Vì vậy, ứng dụng công nghệ mới để thay đổi cách làm, xử lý cái cũ để tạo ra cái mới là rất quan trọng .
5. Một trong những chính sách lớn về KH-CN của Nhà nước ta hiện nay là đổi mới một cách cơ bản cơ chế quản lý và tổ chức hoạt động KH-CN, khẩn trương khắc phục tình trạng bao cấp, hành chính hóa hoạt động KH-CN, chuyển các tổ chức KH-CN nghiên cứu triển khai sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp. Nhưng đa số các tổ chức KH vẫn còn nhiều băn khoăn và ngập ngừng trong việc chuyển đổi. Ông suy nghĩ về vấn đề này như thế nào?
Một trong những tồn tại của hoạt động KH-CN nước ta thời gian qua là tình trạng sử dụng, phân bổ ngân sách nghiên cứu theo kiểu “xin - cho”. Đây là lý do xuất hiện những đề tài chỉ để trong “ngăn kéo”, hoặc nghiên cứu, thử nghiệm thành công nhưng không triển khai ứng dụng rộng rãi được do không có cơ chế đầu tư, mở rộng sản xuất. Luật KH&CN ra đời, theo đó ngành KH&CN đang thực hiện cơ chế tuyển chọn nhiệm vụ KH&CN (đề tài, dự án KH&CN), tuyển chọn (“đấu thầu”) các đơn vị KH-CN, các nhà khoa học có năng lực thực hiện các nghiên cứu KH&CN. Cụ thể là Nghị định 115/2005/CP của Chính phủ về cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm trong hoạt động KH-CN đã tháo gỡ những tồn tại đó, để những nghiên cứu, sáng tạo KH-CN có tính ứng dụng vào đời sống cao hơn. Với cơ chế như vậy, ai năng động, thích ứng được với cơ chế thị trường sẽ vươn lên mạnh mẽ và hiệu quả, còn ngược lại sẽ bị loại ra, giảm được gánh nặng đầu tư ngân sách không hiệu quả. Các nhà KH hay các tổ chức hoạt động KH-CN sẽ phải gắn mình với thực tiễn sản xuất, phải lao vào tìm tòi, nghiên cứu những đối tượng “có thể bán được”, còn nếu không sẽ khó tồn tại. Những người muốn làm KH thật sự sẽ không bị trói buộc vào cơ chế quản lý, cơ chế thanh quyết toán cứng nhắc làm mất động lực, khả năng sáng tạo. Theo tôi, đây là một chủ trương đúng, một phương thức quản lý mới phù hợp với quy luật của cơ chế thị trường. Tuy nhiên, KH muốn tự chủ về tài chính nhưng vấn đề là tự chủ như thế nào và cái khó là trình độ quản lý và trình độ cán bộ làm KH, làm sao để kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thực tiễn một cách hiệu quả. Vì vậy cần phải tăng cường nâng cao năng lực quản lý, năng lực cán bộ và không nên chuyển đổi 115 một cách hình thức hành chính mà nên căn cứ vào năng lực thực tế của đơn vị chuyển đổi để thực hiện hiệu quả.
6. Nhân kỷ niệm 50 năm ngành KH-CN Nghệ An, ông có mong ước gì cho KH-CN tỉnh nhà trong tương lai?
KH-CN Nghệ An đã trải qua 50 hình thành và phát triển với nhiều biến đổi và cố gắng để có được nhiều thành quả hữu ích. Vì vậy tôi rất mong thế hệ trẻ hôm nay sẽ trang bị đầy đủ kiến thức để tự tin hội nhập quốc tế, đưa Nghệ An đi lên bằng con đường phát triển công nghệ mới trên tất cả các lĩnh vực như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc hay nhiều quốc gia tiên tiến khác. Cán bộ lãnh đạo và người dân cần suy nghĩ và chung tay hợp tác về vấn đề này để khai thác, phát huy tốt tiềm năng sẵn có của tỉnh nhà dựa trên tinh thần tiếp thu, thừa kế để KH-CN Nghệ An tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn nữa, đóng góp thiết thực, hiệu quả hơn nữa thúc đẩy sự phát triển KT-XH của tỉnh, là yếu tố quan trọng giúp Nghệ An thoát nghèo.
Xin trân trọng cảm ơn ông!