Nhằm thực hiện tốt các nội dung hoạt động KH&CN theo tinh thần Nghị quyết TW2 (Khóa VIII), từ năm 2000, lãnh đạo Sở KH&CN Nghệ An đã thành lập Tổ quản lý KH&CN cấp huyện quản lý hoạt động KH&CN trên địa bàn các huyện. Đến năm 2003, phòng Quản lý KH&CN cấp huyện được thành lập theo Quyết định số 95/2003/QĐ-UB ngày 30/10/2003 của UBND tỉnh Nghệ An về "Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức Sở KH&CN Nghệ An". Từ đây, mạng lưới quản lý KH&CN cấp huyện được hình thành và củng cố một bước. Thực hiện Quyết định số 79/2004/QĐ-UB-TH của UBND tỉnh về "Quy định chức năng, quyền hạn và tổ chức bộ máy giúp UBND các huyện thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về KH&CN tại địa phương", đến nay ở hầu hết các huyện, thành phố và thị xã, nhiệm vụ tham mưu quản lý nhà nước về KH&CN ở cấp huyện đều được giao cho một phòng chuyên môn (phòng Kinh tế hoặc phòng Công thương), đồng thời có cán bộ chuyên trách quản lý hoạt động KH&CN. Song song với việc kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý hoạt động KH&CN, việc kiện toàn Hội đồng KH&CN các huyện, thành, thị cũng được thực hiện. Cho đến nay, tổ chức bộ máy quản lý hoạt động KH&CN cấp huyện ở Nghệ An đã thực hiện đúng như Thông tư 05/2008/TTLT-BKHCN-BNV của Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Nội vụ ngày 18/6/2008. So với cả nước, Nghệ An là tỉnh có tổ chức bộ máy hoạt động KH&CN cấp huyện được thành lập khá sớm và thường xuyên được kiện toàn, đổi mới. Mười năm qua cũng là giai đoạn vừa làm, vừa đúc rút kinh nghiệm để từng bước định hình và không ngừng hoàn thiện mô hình hoạt động KH&CN cấp huyện như ngày hôm nay.
I. Về hoạt động KH&CN ở các huyện, thành phố, thị xã
Hoạt động KH&CN cấp huyện chủ yếu được triển khai trên các mặt:
1. Hoạt động tham mưu tư vấn của Hội đồng KH&CN huyện
Từ năm 2001, Hội đồng KH&CN được thành lập tại tất cả huyện, thành, thị trên địa bàn tỉnh. Đến năm 2006, UBND tỉnh ra Quyết định số 5059/QĐ.UBND ngày 28/12/2006 về việc ban hành “Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng KH&CN tỉnh Nghệ An, Hội đồng KH&CN các huyện, thành phố Vinh và thị xã Cửa Lò”. Theo đó, ở 20 huyện, thành phố, thị xã đều thành lập Hội đồng KH&CN cấp huyện có số lượng từ 9-15 thành viên, trong đó Chủ tịch Hội đồng KH&CN huyện là một lãnh đạo UBND huyện phụ trách KH&CN; các thành viên là trưởng các phòng, thủ trưởng các trạm, trại; thư ký hội đồng là cán bộ chuyên trách.
2. Về hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng và phát triển công nghệ ở cấp huyện
Từ năm 2003, Sở KH&CN Nghệ An đã có chương trình hỗ trợ các huyện ứng dụng tiến bộ KH&CN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, theo đó mỗi huyện hàng năm đều được lựa chọn và thực hiện 1 đề tài, dự án nhằm giải quyết các yêu cầu phát triển của mỗi địa phương. Những đề tài, dự án đều do Hội đồng KH&CN huyện tuyển chọn, đề xuất nên giải quyết đúng vấn đề búc xúc đang cần có sự tác động của KH&CN nhằm thúc đẩy sản xuất, gắn với thực tiễn địa phương và có tính khả thi cao. Bắt đầu từ năm 2005, nhằm thúc đẩy hoạt động ứng dụng các tiến bộ KH&CN vào sản xuất và đời sống ở các huyện, 3 huyện Nghi Lộc, Diễn Châu và Yên Thành được chỉ đạo làm thí điểm phân cấp tài chính trong quản lý các đề tài, dự án KH&CN theo Quyết định 30/QĐ-UB-TH/2005 của UBND tỉnh; đến năm 2007, được mở rộng thêm 3 huyện là Hưng Nguyên, Nghĩa Đàn và thành phố Vinh.
Từ năm 2003-2009, hoạt động KH&CN cấp huyện đã thực hiện 61 đề tài, dự án, trong đó có 30 đề tài, dự án hỗ trợ các huyện nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ KH&CN và 31 đề tài dự án KH&CN phân cấp cho 6 huyện Yên Thành, Nghi Lộc, Diễn Châu, Hưng Nguyên, Nghĩa Đàn và thành phố Vinh. Hiện đã có 25 đề tài nghiệm thu trong đó đạt loại xuất sắc 28%, loại khá 52% và loại trung bình 20%. Qua các đề tài, dự án đã xây dựng được một số mô hình đạt kết quả tốt như: mô hình ứng dụng tiến bộ KHKT trồng đậu xanh trên đất sau nương rẫy; mô hình sản xuất rau sạch đã góp phần làm thay đổi nhận thức của người nông dân trong quá trình sản xuất, làm ra sản phẩm sạch hơn, hiện nay đã được nhân rộng nhiều huyện trong tỉnh; các mô hình ứng dụng tiến bộ KHKT chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, xây dựng cánh đồng 50 triệu đồng/ha, 60-80 triệu đồng/ha; các mô hình nuôi ba ba, vịt bầu Quỳ, nuôi thả cánh kiến đỏ, phát triển cây quế; mô hình ứng dụng công nghệ biogas trong phát triển chăn nuôi; mô hình kết hợp kinh tế vườn - ao - chuồng - rừng được thực hiện có hiệu quả ở nhiều địa phương.
Triển khai ứng dụng tiến bộ KH&CN cũng đã góp phần tạo ra nghề mới, thay đổi tập quán canh tác của nông dân, đồng thời tạo ra sản phẩm hàng hóa mới cung cấp cho thị trường. Điển hình là các mô hình sản xuất rau an toàn ở xã Hưng Lợi (Hưng Nguyên), Diễn Xuân (Diễn Châu); mô hình chăn nuôi bò nái sinh sản chất lượng cao tại xã Nghi Kiều (Nghi Lộc); mô hình trồng cỏ nuôi bò ở Diễn Phú (Diễn Châu); mô hình trồng hoa chất lượng cao tại xã Hưng Đông (thành phố Vinh) và xã Diễn Hồng (Diễn Châu); sản xuất một số hàng thủ công mỹ nghệ tại Xí nghiệp thanh niên Cửa Hội (thị xã Cửa Lò)… Một số huyện, thành, thị đã chủ động đề xuất để phục hồi, khôi phục lại những sản phẩm đặc thù của địa phương để tạo hàng hóa có giá trị để cung cấp cho thị trường và tăng thu nhập cho người dân như: mô hình phục hồi giống cam bản địa tại xã Minh Thành (Yên Thành); nghiên cứu bảo tồn và phát triển giống xoài Tương Dương, phục tráng giống đậu tương Nam Đàn…
Nhìn chung, việc triển khai ứng dụng các tiến bộ KH&CN tại các huyện, thành, thị, nhất là thông qua các mô hình tiên tiến, đã bước đầu giúp nông dân chuyển đổi nhận thức, coi tiến bộ KH&CN là nguồn lực thiết thực giúp họ xoá đói, giảm nghèo và làm giàu một cách bền vững.
3. Hoạt động quản lý Nhà nước về Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng (TC-ĐL-CL) hàng hóa, sở hữu trí tuệ
Công tác quản lý Nhà nước về ĐL-CL hàng hóa ở cấp huyện đã có nhiều đổi mới, sáng tạo và ngày càng có nề nếp, góp phần giảm đáng kể các hành vi vi phạm pháp luật, làm lành mạnh thị trường, văn minh thương mại và bảo vệ lợi ích người sản xuất cũng như người tiêu dùng.
UBND các huyện, thành, thị thường xuyên tuyên truyền về các văn bản pháp quy, pháp luật liên quan đến hoạt động TC-ĐL-CL cho các cơ sở sản xuất kinh doanh thông qua tập huấn nâng cao nhận thức cộng đồng, xây dựng các phóng sự truyền hình về những vi phạm, gian lận trong ĐL-CL. Bên cạnh đó, các huyện đã có vận động và hướng dẫn các hộ kinh doanh trên địa bàn ký cam kết không buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng và sử dụng phương tiện đo không hợp chuẩn. Đây là cách mà cả xã hội cùng tham gia vào công tác chống gian lận thương mại. Ở các huyện thành thị đã tổ chức lắp đặt và đưa vào sử dụng 46 trạm cân đối chứng trên chợ loại 1, 2 và 3. Hoạt động thường xuyên của các trạm cân đối chứng đã giúp người tiêu dùng kiểm tra trọng lượng khi nghi vấn có gian lận, góp phần lập lại trật tự và văn minh thương mại trên thị trường.
Các huyện đã chủ động huy động lực lượng cán bộ kỹ thuật và quản lý trong huyện tổ chức các cuộc thanh, kiểm tra đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn. Ngoài ra, các huyện cũng phối hợp với các đơn vị tổ chức các đoàn thanh tra, kiểm tra chuyên ngành như y tế, vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống cháy nổ, các nhà hàng, khách sạn… Đối tượng thanh tra, kiểm tra là các cơ sở sản xuất, kinh doanh. Các mặt hàng thanh tra, kiểm tra là lương thực thực phẩm (bánh, kẹo, nước mắm, xì dầu, mì tôm, mì chính, bia, rượu, nước giải khát...), phân bón, giống cây trồng, mỹ phẩm, xăng dầu, mũ bảo hiểm, các phương tiện đo (các loại cân, cột đo xăng dầu). Qua kiểm tra đã phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm về ĐL-CL hàng hoá, góp phần làm lành mạnh thị trường và bảo vệ người tiêu dùng. Các huyện cũng đã xây dựng được hệ thống thanh tra, kiểm tra về ĐL-CL, sở hữu trí tuệ từ Sở KH&CN đến các huyện, thành, thị và đã phối hợp, huy động được sức mạnh tổng hợp của các ngành, các cấp trong công tác thanh tra, kiểm tra nhằm ngăn chăn và góp phần đẩy lùi được các hiện tượng buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng như bánh kẹo, nước mắm, phân bón, giống cây, giống con…
4. Hoạt động thông tin KH&CN
Với mục tiêu hướng đến nhu cầu của cơ sở, nhằm cung cấp những thông tin cơ sở cần, trong những năm qua công tác thông tin KH&CN đã ngày càng được đa dạng hóa về nội dung và hình thức, đóng góp một phần quan trọng trong việc triển khai thành công các đề tài, dự án nghiên cứu ứng dụng trên nhiều địa bàn. Cụ thể: Phát hành các loại ấn phẩm thông tin KH&CN xuống tận cơ sở, phục vụ cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ KHKT ở huyện, xã và bà con nông dân. Các ấn phẩm thông tin được đánh giá tốt, có tác dụng phục vụ thiết thực trong việc phổ biến, hướng dẫn ứng dụng tiến bộ KH-CN vào sản xuất và đời sống; Tổ chức cho cán bộ KH các huyện, thành, thị tham quan, học tập kinh nghiệm các mô hình ứng dụng tiến bộ KH&CN mới ở trong và ngoài tỉnh để trao đổi kinh nghiệm, học tập kỹ thuật để tổ chức triển khai trên địa bàn; Thông qua kế hoạch hoạt động KH&CN, các huyện, thành, thị tổ chức các lớp tập huấn về các kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi mới vào địa phương để trang bị cho bà con nông dân những kiến thức khoa học, đem lại hiệu quả sản xuất cao; Phối hợp với các đơn vị, trạm, trại trên địa bàn tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản dưới hình thức học lý thuyết đến đâu thực hành ngay tới đó; Phối hợp với đài phát thanh - truyền hình huyện xây dựng các phóng sự phổ biến các tiến bộ KH&CN ứng dụng vào sản xuất và đời sống; Xây dựng được 4 trung tâm KH&CN ở 4 huyện. Ở tất cả các huyện thành thị đều được trang bị cơ sở dữ liệu của thư viện điện tử, phục vụ tra cứu và tham khảo về KH&CN.
5. Cơ chế quản lý và đầu tư kinh phí cho hoạt động KH&CN trên địa bàn huyện
Kinh phí cho hoạt động KH&CN ở cấp huyện bao gồm kinh phí phục vụ quản lý nhà nước và kinh phí cho các hoạt động nghiên cứu và ứng dụng. Trong đó:
- Kinh phí quản lý nhà nước:
Kinh phí phục vụ quản lý nhà nước cho cấp huyện được cấp trên cơ sở hợp đồng giữa Giám đốc Sở KH&CN và Chủ tịch UBND cấp huyện. Nội dung nhiệm vụ hoạt động do UBND các huyện, thành phố, thị xã tổ chức xây dựng, có sự hướng dẫn của Sở KH&CN. Sở KH&CN tổ chức hội đồng thẩm định, phê duyệt nội dung công tác KH&CN của huyện hàng năm, ký hợp đồng và cấp kinh phí cho huyện thực hiện, đồng thời tổ chức kiểm tra và nghiệm thu, thanh lý hợp đồng hàng năm. Cơ chế này thể hiện ưu điểm: Có sự cam kết chặt chẽ trong việc thực hiện các nội dung đã được ký kết giữa UBND huyện, thành, thị và Sở KH&CN; Các huyện đảm bảo tài chính cho các nội dung được phê duyệt. Mặc dù vậy, cơ chế cũng bộc lộ một số hạn chế: Cơ sở cứng nhắc theo các nội dung hợp đồng và không chủ động sáng tạo và phát huy hết nội lực của huyện để thực hiện các hoạt động KH&CN trên địa bàn. Tuy nhiên, thực tế vẫn cho thấy đây đang là một cách làm hợp lý và có hiệu quả thiết thực.
- Kinh phí đầu tư thực hiện các đề tài, dự án ứng dụng các tiến bộ KH&CN trên địa bàn huyện:
Hàng năm, các tổ chức, cá nhân trên địa bàn huyện, thành phố, thị xã đề xuất danh mục đề tài, dự án lên UBND các huyện; UBND các huyện tổ chức Hội đồng tuyển chọn danh mục trình Sở KH&CN; Sở KH&CN thành lập Hội đồng tuyển chọn danh mục trình UBND tỉnh phê duyệt. Sau đó, UBND huyện lựa chọn tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện đề tài, dự án trên địa bàn xây dựng thuyết minh đề tài, dự án trình Sở KH&CN. Sở KH&CN thành lập Hội đồng tuyển chọn, xem xét phê duyệt thuyết minh đề tài, dự án và ký hợp đồng và cấp kinh phí giao cho đơn vị trúng tuyển thực hiện. Sở KH&CN chủ trì phối hợp với UBND các huyện, thành phố, thị xã quản lý các đề tài, dự án theo những quy định chung.
Ngoài nguồn kinh phí sự nghiệp khoa học, các đề tài dự án KH&CN khi triển khai trên địa bàn huyện đều khai thác được nguồn đối ứng từ tổ chức cá nhân thực hiện đề tài. Trong những năm qua, nguồn đối ứng này chiếm tới khoảng 70% tổng chi phí của dề tài, dự án. Mặt khác, một số huyện thành, thị ở tỉnh ta thông qua nguồn ngân sách sự nghiệp kinh tế cũng đã đầu tư đáng kể cho các mô hình ứng dụng tiến bộ KH&CN phát triển sản xuất kinh doanh như Hưng Nguyên, Yên Thành, thành phố Vinh, Quỳnh Lưu… Trong đó, huyện Quỳnh Lưu hàng năm đầu tư từ 600-700 triệu đồng cho 20-30 mô hình ứng dụng KH&CN trên địa bàn. Đây chính là những cách làm hay cần phổ biến.
II. Bài học kinh nghiệm
Hệ thống tổ chức, phương thức hoạt động và cơ chế quản lý hoạt động KH&CN cấp huyện trên đây của Nghệ An đã được coi là một trong những mô hình hoạt động KH&CN cấp huyện có hiệu quả tốt. Mô hình đó đã được các cơ quan quản lý có thẩm quyền nghiên cứu và đánh giá cao, đồng thời cũng được một số địa phương tham khảo và chia sẻ. Tuy nhiên, hoạt động KH&CN cấp huyện ở Nghệ An cũng đã và đang đặt ra những vấn đề sau đây:
- Hệ thống quản lý nhà nước về KH&CN ở cấp huyện tuy đã hình thành và hoạt động có nề nếp nhưng chưa đồng đều, cán bộ chuyên trách thường có sự thay đổi hoặc chưa tập trung cao độ cho các hoạt động KH&CN.
- Các huyện thành thị hiện nay chưa có chương trình, kế hoạch dài hạn về KH&CN, do đó còn bị động, lúng túng trong việc xác định nhiệm vụ.
- Chưa có quy định cụ thể về chức năng nhiệm vụ của cấp huyện về quản lý nhà nước trên các lĩnh vực như TC-ĐL-CL; quản lý an toàn bức xạ, quản lý công nghệ; sở hữu trí tuệ… nên hoạt động còn lúng túng.
- Việc khai thác thông tin KH&CN trong hệ thống đã được trang bị của các huyện, thành, thị chưa thật hiệu quả.
- Do nguồn lực đầu tư còn hạn chế, nhu cầu ở cơ sở lại nhiều nên các đề tài, dự án thực hiện ở cấp huyện còn nhỏ lẻ, manh mún, chưa có cơ chế thích hợp để thực hiện, nhân rộng các mô hình tốt đến khi hình thành sản phẩm thương mại. Tình trạng đề tài, dự án chưa được ứng dụng và nhân rộng có hiệu quả còn khá phổ biến.
- Chưa có cơ chế chính thức cho các huyện, thành, thị đầu tư ngân sách trực tiếp cho hoạt đông nghiên cứu và ứng dụng KH&CN trên địa bàn. Một số huyện hiện nay chủ yếu vận dụng đầu tư qua nguồn sự nghiệp kinh tế hoặc sự nghiệp xã hội.
Từ thực tiễn 10 năm hoạt động KH&CN trên địa bàn cấp huyện ở Nghệ An, có thể rút ra mấy bài học kinh nghiệm sau đây:
1/ Phải bám sát nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đời sống trên địa bàn huyện để xây dựng kế hoạch và xác định nhiệm vụ KH&CN một cách sát thực và hiệu quả, hạn chế những nhiệm vụ KH&CN mang tính chung chung, không hướng tới sản phẩm cụ thể. Vì vậy, các nhiệm vụ KH&CN trên địa bàn các huyện, đặc biệt là việc lựa chọn thực hiện các đề tài, dự án KH&CN ở cấp huyện phải hướng tới việc ưu tiên đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ KH&CN, nhân rộng các mô hình có hiệu quả và nghiên cứu ứng dụng KH&CN tiên tiến trong việc nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm truyền thống vốn có của từng địa phương trở thành các sản phẩm hàng hóa, có sức cạnh tranh trên thị trường.
2/ Chăm lo đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước và cán bộ nghiên cứu, ứng dụng KH&CN ở cấp huyện, nuôi dưỡng sự đam mê và trách nhiệm của đội ngũ này đối với hoạt động KH&CN ở địa phương. Bí quyết của Nghệ An không phải là có chế độ đãi ngộ gì đặc biệt mà chủ yếu là làm cho họ thấy rõ rằng gắn bó với khoa học, họ được củng cố và bồi đắp thêm kiến thức, làm chủ được lĩnh vực nghiên cứu, nâng cao hơn uy tín trong công tác, được chan hòa trong một môi trường trí tuệ, văn minh và lành mạnh.
3/ Khai thác, phát huy các nguồn lực xã hội hóa, đầu tư cho KH&CN cấp huyện. Trong đó nguồn ngân sách sự nghiệp khoa học đóng vai trò “kích cầu”, dẫn dắt để huy động các nguồn đối ứng khác từ đối tác qua vật tư, thiết bị, nguyên liệu, giống, công lao động. Theo hướng này, trong thời gian tới, một mặt tăng đầu tư từ nguồn sự nghiệp khoa học cho KH&CN cấp huyện, mặt khác xây dựng cơ chế để ngân sách cấp huyện đầu tư trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu và ứng dụng, đồng thời đảm bảo nguồn đối ứng từ các đối tác từ 70% trở lên cho các dự án ứng dụng.
4/ Không ngừng đúc rút kinh nghiệm để ngày càng hoàn thiện cơ chế quản lý của Sở KH&CN đối với hoạt động KH&CN cấp huyện cả về quản lý nhà nước và hoạt động nghiên cứu ứng dụng trên địa bàn, theo hướng vừa chặt chẽ, vừa thông thoáng để phát huy tính chủ động, tự chủ và sáng tạo của cơ sở. Hiện nay cơ chế hợp đồng đã và đang được vận hành có hiệu quả. Tuy nhiên, trong tương lai, khi hoạt động KH&CN ở cấp huyện đã trở thành nền nếp và mở rộng, được đầu tư lớn, thì đương nhiên phải tính toán một cơ chế khác cho phép không những ràng buộc trách nhiệm mà còn phát huy được tính chủ động, tự chủ và năng động của cơ sở./.