Những năm qua, hoạt động nghiên cứu ứng dụng chuyển giao TB KH-CN của tỉnh Nghệ An đã đạt được những thành tựu đáng kể. Kết quả được thể hiện rất rõ ở việc sản phẩm nông nghiệp không ngừng tăng lên về sản lượng lẫn chất lượng, đời sống của người dân được cải thiện, góp phần tăng trưởng kinh tế tỉnh nhà. Song bên cạnh những thành quả đó, việc thực hiện, triển khai và ứng dụng các đề tài, dự án vào thực tiễn vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần được các nhà khoa học, nhà quản lý quan tâm tháo gỡ. Để tiếp cận vấn đề một cách rõ ràng hơn, Thông tin KH&CN Nghệ An đã có cuộc trao đổi với: Ông Phạm Hồng Hải - Giám đốc Trung tâm ứng dụng TBKH-CN Nghệ An và Ông Trần Xuân Học - Giám đốc Trung tâm giống thuỷ sản Nghệ An - là đại diện hai đơn vị đi đầu và có nhiều thành quả đáng ghi nhận trong hoạt động nghiên cứu ứng dụng chuyển giao TB KH-CN của tỉnh Nghệ An.
* Thông tin KH&CN Nghệ An (TT KH&CN NA): Là đơn vị có chức năng nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao TB KHKT, đơn vị ông hiện nay đang gặp những thuận lợi cũng như khó khăn, vướng mắc gì trong hoạt động?
- Ông Phạm Hồng Hải (Ô. PHH): Thuận lợi chung cơ bản là vai trò của KH-CN ngày càng được nâng cao với quan điểm KH-CN là “động lực”, đầu tư cho KH-CN là đầu tư cho phát triển. Theo đó, có nhiều cơ chế chính sách mới cho phát triển KH-CN, như: sự ra đời của Luật KH-CN, các nghị định phát huy quyền tự chủ cho các đơn vị hoạt động KH-CN như Nghị định 80, 115...; một số văn bản tạo cơ chế giảm thủ tục hành chính, tăng thu nhập cho nhà khoa học như Thông tư 45 của Liên Bộ Tài chính - KH&CN, Quyết định 22 của UBND tỉnh Nghệ An. Mức đầu tư cho KH-CN cũng được nâng cao. Trong khi đó nhu cầu về ứng dụng tiến bộ KH-CN của người dân, các doanh nghiệp và của cả xã hội ngày càng tăng. Trung tâm Ứng dụng TB KH-CN Nghệ An là đơn vị đã có bề dày kinh nghiệm trên 20 năm (thành lập 1985), có điều kiện cơ sở vật chất về đất đai, nhà cửa, trang thiết bị tương đối thuận lợi (đang tiếp tục được đầu tư dự án tăng cường cơ sở vật chất), đã làm chủ một số công nghệ về sinh học như sản xuất chế phẩm sinh học, phân vi sinh, sản xuất rau an toàn, nuôi cấy mô tế bào, vi ghép hay xử lý ô nhiễm môi trường. Đặc biệt, đơn vị có đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm và năng lực trong chuyển giao tiến bộ KH-CN vào sản xuất. Trung tâm là đơn vị đầu tiên trong tỉnh đã được UBND tỉnh phê duyệt đề án chuyển đổi theo Nghị định 115, được tự chủ hơn về hoạt động và nhận được nhiều sự hỗ trợ từ Sở KH&CN Nghệ An, UBND tỉnh và Bộ KH&CN.
Khó khăn lớn nhất của đơn vị là sản phẩm khoa học chưa tạo được nguồn thu, trung tâm không có sản phẩm đặc trưng tạo nguồn thu ổn định. Hiện nay, đầu ra sản phẩm của đơn vị chủ yếu là cho nông dân (đối tượng nhà nước đang phải cho chứ họ chưa có ý nghĩ là mua). Trong khi đó nhà nước vẫn thiếu một số cơ chế chính sách cho tính tự chủ trong hoạt động KH-CN như tăng nguồn thu, cơ chế trả công luơng xứng đáng cho cán bộ khoa học. Mặt khác suy nghĩ, cách làm việc của cán bộ trung tâm, sự chỉ đạo, quản lý của các cơ quan chức năng chưa thay đổi vẫn theo cách “bao cấp”. Đơn vị chưa được giao công việc mang tính chất sự nghiệp khoa học ổn định hằng năm để có lương chi trả, thay cho chi thường xuyên được cấp trước đây.
- Ông Trần Xuân Học (Ô. TXH): Được thành lập từ năm 2003 trên cơ sở nâng cấp Trạm Nghiên cứu ứng dụng và sản xuất giống thuỷ sản Yên Lý (thuộc Sở Thuỷ sản cũ), đến nay theo Quy hoạch của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định 112/2004 ngày 23/6/2004, Trung tâm giống thuỷ sản Nghệ An đã và đang trở thành Trung tâm giống thuỷ sản cấp 1 vùng Bắc Trung Bộ. Trong quá trình hoạt động và phát triển, đơn vị có nhiều thuận lợi như: Sự quan tâm chỉ đạo của UBND tỉnh và các sở ban ngành như Sở Nông nghiệp & PTNT, Khoa học & Công nghệ, Kế hoạch, Tài chính… Đặc biệt trong những năm gần đây, cơ sở hạ tầng của đơn vị đã được đầu tư nâng cấp như hệ thống ao hồ, nhà xưởng tại Trại sản xuất thực nghiệm Yên Lý, năm 2010 được đầu tư xây dựng mới Trại sản xuất thực nghiệm giống thuỷ sản mặn lợ Diễn Hải…; Xu thế phát triển của thuỷ sản thế giới nói chung và của nước ta nói riêng đã có tác động tích cực đến sự phát triển của ngành thuỷ sản Nghệ An trong đó có Trung tâm giống thuỷ sản; Đội ngũ cán bộ kỹ thuật được đào tạo bài bản về chuyên môn, năng lực và nhiệt tình trong công tác; Có mối quan hệ trao đổi tiếp cận thông tin tốt với các viện nghiên cứu, trường đại học chuyên ngành… Song bên cạnh đó, Trung tâm cũng gặp một số khó khăn như: Cơ sở hạ tầng được đầu tư song chưa đồng bộ, còn manh mún, thiếu tính hiện đại; Nguồn nhân lực có chất lượng cao còn thiếu, do mặt bằng thu nhập còn thấp nên công tác thu hút cán bộ kỹ thuật, công nhân kỹ thuật lành nghề về công tác gặp khó khăn; Nguồn kinh phí hoạt động rất hạn chế.
*TT KH&CN NA: Các sản phẩm của đơn vị đã tiếp cận và được thị trường tiếp nhận như thế nào? Ông có thể chia sẻ một số kinh nghiệm của đơn vị trong việc ứng dụng, chuyển giao hiệu quả và thiết thực kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh?
- Ô. PHH: Hiện nay sản phẩm của đơn vị là các công nghệ như trên đã nêu, ngoài ra đơn vị cũng có một số sản phẩm cụ thể như: Chế phẩm sinh học sản xuất phân vi sinh, phối hợp sản xuất phân vi sinh, giống nấm, giống cây nuôi cấy mô, cây có múi sạch bệnh, công nghệ vi ghép... Nói rộng ra, các đề tài, dự án KH-CN cũng là một sản phẩm của đơn vị. Cùng với nhu cầu của xã hội, nhiều sản phẩm của đơn vị đã tiếp cận và được thị trường tiếp nhận tốt, như chế phẩm sinh học sản xuất phân vi sinh, giống nấm, phân vi sinh. Kế hoạch năm 2009, Trung tâm sản xuất 10 tấn chế phẩm sinh học nhưng hiện nay đang mùa vụ sản xuất nên nhu cầu tăng đột biến, tuy vậy, trang thiết bị đơn vị không thể tăng công suất nên không sản xuất kịp. Chuyển giao công nghệ cho các dự án cấp huyện, xử lý ô nhiễm môi trường (như xử lý kho thuốc bảo vệ thực vật Mẫu 2 Kim Liên Nam Đàn, nước thải sinh hoạt trại tạm giam ở Nghi Kim) đều được đánh giá tốt từ cơ quan quản lý và nguời dân được hưởng lợi. Hằng năm, Trung tâm thực hiện nhiều dự án, đề tài khoa học trong đó có nhiều đề tài dự án Trung ương quản lý đều đạt kết quả tốt, như các Dự án chương trình nông thôn miền núi: "Xây dựng mô hình trồng chuối tập trung bằng giống nuôi cấy mô tế bào tại Nghệ An”, “Sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh vật từ phế phụ phẩm nông nghiệp tại Nghệ An” được hội đồng cấp Tỉnh và Trung ương xếp loại xuất sắc. Dự án: "Hỗ trợ xây dựng, quảng bá và phát triển thương hiệu cam Vinh" đã xác định được vùng chỉ dẫn địa lý cam Vinh và đã được cấp bằng chỉ dẫn địa lý Vinh cho sản phẩm cam quả Nghệ An... Tuy nhiên nhiều sản phẩm đã tiếp cận thị trường như cây giống nuôi cấy mô, cây vi ghép, chưa được thị trường chấp nhận, cơ bản vì giá thành còn quá cao và một số sản phẩm như giống nấm giai đoạn này dân không sản xuất nấm, nên cũng không có nhu cầu giống.
Để cho kết quả nghiên cứu được chuyển giao hiệu quả và thiết thực vào sản xuất kinh doanh thì việc đầu tiên cần làm đó là kết quả nghiên cứu phải là tiến bộ kỹ thuật, nhà sản xuất kinh doanh phải có nhu cầu thực sự và tiến bộ đó phải tạo ra hiệu quả cho người sản xuất. Mặt khác, ở ngành KH-CN, đối tượng chủ yếu là nông dân thì cần phải có sự hỗ trợ của nhà nước về chuyển giao công nghệ, hỗ trợ về giống mới và một số nguyên vật liệu tác động đến thành công của các dự án. Trên quan điểm đó, kinh nghiệm của chúng tôi là nắm bắt nhu cầu của xã hội, phối hợp với các viện trường có các công nghệ tiên tiến, chọn các công nghệ phù hợp với dịa phuơng và gắn với các chương trình KH-CN của trung ương, của địa phương để đề xuất tuyển chọn các đề tài dự án mà đơn vị có khả năng thực hiện. Thông qua đó nguời dân được hưởng kết quả nghiên cứu, Trung tâm tiếp thu công nghệ mới và có thể có một sản phẩm khoa học mới cho đơn vị sản xuất lâu dài.
- Ô. TXH: Trong những năm qua, đơn vị chúng tôi đã có nhiều sản phẩm có uy tín và thương hiệu như: cá rô phi đơn tính, cá chép V1, tôm sú, cá vược…, trở thành nhà cung cấp nguồn giống hàng hoá tin cậy cho hầu hết đơn vị, người dân nuôi thuỷ sản trong tỉnh và các tỉnh lân cận như Quảng Bình, Hà Tĩnh, Thanh Hoá. Từ đó, đơn vị đã rút ra kinh nghiệm trong việc ứng dụng, chuyển giao hiệu quả và thiết thực kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh, đó là xác định đối tượng tiếp nhận sản phẩm và nhu cầu thị trường, từ đó phân công cụ thể cho cán bộ có đủ năng lực chịu trách nhiệm thực hiện.
* TT KH&CN NA: Xin hỏi ông Hải, là đơn vị đi đầu của tỉnh, cũng là một trong số ít các Trung tâm ứng dụng trên toàn quốc chuyển đổi sang cơ chế tự chủ về tài chính theo Nghị định 115/CP của Chính phủ, thực tế sau hơn một năm chuyển đổi kết quả hoạt động của trung tâm như thế nào? Ông có thể chia sẻ kinh nghiệm gì với những đơn vị đang trên đà chuyển đổi?
Theo đánh giá của ông, giữa bao cấp và tự chủ, cơ chế nào khuyến khích, nâng cao hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao tốt hơn những kết quả nghiên cứu đó vào thực tiễn sản xuất và đời sống?
- Ô. PHH: Việc chuyển đổi hoạt động của các đơn vị sự nghiệp KH-CN theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115 là một sự đổi mới, là “khoán 10” trong hoạt động KH-CN. Nghị định tạo điều kiện cho các đơn vị này tăng cường trách nhiệm và nâng cao tính chủ động trong hoạt động và chuyển cơ chế bao cấp sang tự trang trải kinh phí. Thực hiện Nghị định 115 là một nội dung của cải cách hành chính trong hoạt động KH-CN và là nhiệm vụ quan trọng được UBND tỉnh giao cho Sở KH&CN. Ở tỉnh ta, Trung tâm Ứng dụng TB KH-CN là đơn vị đầu tiên và là một trong rất ít các trung tâm của các tỉnh trong cả nước xây dựng đề án chuyển đổi và được UBND tỉnh phê duyệt tại quyết định số 593/QĐ-UB ngày 29/2/2008. Hoạt động của đơn vị sau gần một năm chuyển đổi có nhiêu chuyển biến theo hướng phát triển. Được đưa vào một trong muời sự kiện KH-CN của tỉnh năm 2008 là một đánh giá đúng về sự cố gắng phấn đấu của đơn vị. Sau gần một năm chuyển đổi hoạt động của trung tâm đã đi theo hướng tích cực hơn, kể cả tư tưởng nhận thức và hành động. Khối lượng và chất lượng công việc tăng lên, nguồn thu cũng tăng lên. Đã tạo ra một số sản phẩm khoa học mới như chế phẩm sinh học, phân vi sinh...
Chuyển đổi hoạt động của các đơn vị sự nghiệp KH-CN theo cơ chế tự chủ, tự trang trải là một bước đột phá trong KH-CN tạo điều kiện cho các đơn vị này phát triển. Để chuyển đổi thành công trước tiên phải thuyết phục, tìm được sự thống nhất chung trong toàn thể cán bộ công chức viên chức của đơn vị. Việc xây dựng đề án chuyển đổi không khó, vì đã có thông tư 12 hướng dẫn. Tuy nhiên, đây là nội dung rất quan trọng, trong đó phải tiên liệu đúng, để đưa ra các yêu cầu của các đơn vị trong và sau chuyển đổi, để các ban ngành quản lý phải thực hiện. Trong nội dung đề án cần nêu thật cụ thể các dự án đầu tư, các cơ chế hỗ trợ chi tiết để phê duyệt thực hiện. Theo nội dung đề án tranh thủ sự ủng hộ của các cơ quan quản lý để hỗ trợ đầu tư tăng cường cơ sở vật chất. Ngoài yếu tố cơ sở vật chất thì yếu tố con người đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Vì vậy, nên tuyển chọn những cán bộ phù hợp với công việc với những định hướng công việc của đơn vị, nên có bộ máy gọn nhẹ và thu hút, hợp đồng với các lực lượng kỹ thuật, các chuyên gia ngoài đơn vị để phối hợp thực hiện các công việc chuyên môn. Cuối cùng, để chuyển đổi thành công thì phải có công việc có thu. Ngoài kinh nghiệm đã nêu trên thì cần phải tham mưu đề xuất với cơ quan chủ quản một số nhiệm vụ sự nghiệp đặc biệt là các nhiệm vụ ổn định hằng năm để có nguồn thu chi trả luơng cho đơn vị thực hiện.
Chuyển đổi, tự chủ có nghĩa là “bị cắt” nguồn chi thuờng xuyên, điều đó có nghĩa là đơn vị phải lo nguồn thu để chi thường xuyên, trong khi đó yêu cầu của xã hội, của cán bộ viên chức ngày càng cao. Thành ra chuyển đổi nếu không thành công, không có nguồn thu chi trả lương thì người lao động không có việc làm và thu nhập, đơn vị có thể phải giải thể hoặc sáp nhập. Nhưng việc chuyển đổi là vì cái đúng và bắt buộc, vì sự phát triển, hướng tới tương lai lâu dài. Đối với Trung tâm Ứng dụng TB KH-CN Nghệ An, việc chuyển đổi ban đầu cũng đã có những kết quả nhất định và cũng còn rất nhiều khó khăn như ở trên đã nêu. Tuy vậy, theo tôi nếu thực hiện Nghị định 115 thật nghiêm túc, công bằng và có sự ủng hộ của cơ quan quản lý trực tiếp, hoàn thiện một số cơ chế chính sách thì chuyển đổi càng sớm càng tốt và chuyển đổi sẽ phát triển hơn.
* TT KH&CN NA: Xin hỏi ông Học, những năm gần đây, Trung tâm giống thuỷ sản đã có đóng góp không nhỏ trong việc nghiên cứu tuyển chọn giống nuôi trồng thuỷ sản phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên để kết quả nghiên cứu đến với người dân tốt hơn nữa thì công tác khuyến ngư là hết sức quan trọng và cần được chú ý. Đơn vị ông đã thực hiện công tác này như thế nào?
- Ô. TXH: Khuyến ngư là nhiệm vụ hết sức quan trọng và cần được quan tâm thực hiện thường xuyên. Nhận thức được điều này, đơn vị chúng tôi đã tổ chức nhiều hoạt động cụ thể như: Xây dựng những mô hình cụ thể có hiệu quả; Tổ chức cho người dân tham quan thực địa, hội thảo, thảo luận đầu bờ (Biện pháp này rất hiệu quả vì người dân được “thấy” cụ thể, được hỏi, được trao đổi, được giải thích); Biên soạn tài liệu cho người dân ở dạng đơn giản, ngắn gọn, dễ hiểu (dạng câu hỏi- trả lời); Tập huấn theo từng nhóm đối tượng hoặc theo từng công đoạn của quy trình kỹ thuật. Cử cán bộ kỹ thuật có chuyên môn đảm nhận công tác tập huấn; Khâu nối và giải quyết đầu ra cho sản phẩm của người nuôi thuỷ sản. Ví dụ, hiện nay Trung tâm là đơn vị cung cấp cá bột cho các vệ tinh là hộ dân ương nuôi lên cá giống, sau đó thu mua lại giống cỡ lớn cung cấp cho các huyện miền núi, khoảng trên 10 tấn cá giống/năm. Nhờ đó, công tác khuyến ngư của đơn vị luôn thu được kết quả tốt, tạo được uy tín trong nhân dân.
* TT KH&CN NA: Vậy để hoạt động nghiên cứu ứng dụng chuyển giao TBKH-CN phát triển hơn nữa, theo ông cần phải làm gì?
- Ô. PHH: Trong cuộc hội thảo toàn quốc, Giám đốc các trung tâm ứng dụng KH-CN tại Hải Duơng ngày 29/10/2009 đã có một số kết luận rất hợp lý, tôi xin tóm tắt, nêu ra đây thay cho câu trả lời: Đối với các trung tâm: Cần tự nâng cao năng lực hoạt động của mình thông qua việc: tích cực xây dựng các dự án đầu tư nâng cao năng lực, chuyển các nghiên cứu khoa học hay sau kết thúc đề tài dự án có được công nghệ, các sản phẩm khoa học có thị trường tạo nguồn thu, tăng cường công tác dịch vụ, phối hợp chặt chẽ với các viện trường tìm các công nghệ để lựa chọn đưa vào địa phuơng thực hiện thông qua các chương trình KH-CN của trung ương cũng như địa phương. Đối với Sở KH&CN: Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đặt hàng một số nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng và triển khai có tính đặc thù phục vụ công tác quản lý (nhiệm vụ sự nghiệp KH) và đề xuất , nhân rộng các kết quả của các đề tài dự án có kết quả tốt vào sản xuất và đời sống cho trung tâm. Đối với Bộ KH&CN: Hoàn thiện các cơ chế chính sách (trong đó có nghị định 115 về cơ chế trả công, luơng cho đơn vị chuyển đổi); Xây dựng các chương trình ứng dụng tiến bộ KHCN cấp quốc gia phù hợp để các trung tâm đề xuất thực hiện (Như chương trình nông thôn miền núi); Có chương trình tăng cường tiềm lực của trung ương cho các trung tâm nghiên cứu ở địa phuơng.
- Ô. TXH: Tôi cũng xin đề xuất một số giải pháp như sau: Xây dựng chiến lược phát triển KHCN phù hợp và có định hướng đúng đắn, có kế hoạch cụ thể, chi tiết, trước mắt cần tập trung giải quyết những vấn đề xã hội đang bức xúc, đang cần, đang thiếu; Đầu tư cơ sở vật chất hạ tầng cho các đơn vị hoạt động KH-CN, các Trung tâm ứng dụng chuyển giao TBKH-CN, các trạm trại thực nghiệm, khảo nghiệm…; Tăng cường nguồn nhân lực cho hoạt động KH-CN cả về số lượng và chất lượng bằng nhiều phương pháp như: Thu hút, đào tạo, tập huấn… kể cả chính sách hỗ trợ tạo điều kiện về kinh tế cho cán bộ hoạt động KH-CN; Tăng nguồn vốn cho hoạt động KH-CN kết hợp với huy động tốt các nguồn lực khác cùng tham gia vào hoạt động KH-CN.
Xin trân trọng cảm ơn sự cộng tác của các ông!
TT KH&CN Nghệ An thực hiện