Hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tỉnh ta trong những năm qua đã có nhiều chuyển biến cả về lượng và chất. Các đề tài, dự án, đề án KH&CN đã tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc trong sản xuất và đời sống, đóng góp cho sự tăng trưởng kinh tế - xã hội của tỉnh. Nhiều kết quả nghiên cứu, tiến bộ KH&CN đã được áp dụng trên diện rộng, thu được kết quả tốt góp phần: chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong sản xuất nông nghiệp, bảo vệ môi trường; ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ cao trong khám và chữa bệnh cho nhân dân; ứng dụng công nghệ quản lý tiên tiến phục vụ các lĩnh vực sản xuất và điều hành của các cơ quan, doanh nghiệp…
Và đặc biệt đã tạo được sự chuyển biến quan trọng trong nhận thức của nhân dân về vai trò của KH&CN trong sản xuất và đời sống. Thông tin KHCN đã ghi lại một số ý kiến, suy nghĩ, tâm tư nguyện vọng đó.
Ông Phạm Xuân Khôi (Nguyên Phó Chủ nhiệm UBKHKT Nghệ Tĩnh): Với trí thức KHCN Nghệ An, điều cần nhất là môi trường làm việc
“... Theo tôi, một nền KH-CN muốn phát triển nhanh và mạnh thì phải có nguồn nhân lực KH-CN hùng hậu và chiến lược phát triển KH-CN rõ ràng. Có một thực tế đáng buồn là Nghệ An là nơi sản sinh rất nhiều nhân tài nhưng lại không phải là điểm đến của người tài. Không phải vì tỉnh Nghệ An không trọng dụng họ, thể hiện ở chính sách thu hút nhân tài vẫn luôn được coi trọng. Tuy nhiên, lực lượng KHKT về Nghệ An vẫn chưa thể phát huy hết năng lực. Một phần do nền kinh tế của tỉnh còn khó khăn, trình độ phát triển còn thấp. Nhưng điều căn bản là do môi trường làm việc chưa giúp người tài phát huy được hết năng lực của mình. Cho nên, theo tôi, tỉnh cần có những biện pháp cụ thể để tạo điều kiện, môi trường cho trí thức nói chung, trí thức KH-CN nói riêng phát huy được tài năng của mình.
Về chiến lược phát triển, theo tôi, một trong những giải pháp có thể giúp KH-CN Nghệ An tạo được sự đột phá, trở thành trung tâm KH-CN của Bắc miền Trung là tập trung nghiên cứu về công nghệ sinh học. Đây là lĩnh vực Nghệ An còn hẫng hụt, chưa có thành tựu lớn...”
Ông Doãn Trí Tuệ (Kỹ sư nông nghiệp): Tôi may mắn vì đã được tin cậy
“...Trong đời hoạt động KHKT của mình, tôi đã gặp rất nhiều gian truân, thử thách, có lúc tưởng chừng phải bỏ cuộc. Nhưng niềm tin và sự giúp đỡ tạo điều kiện của những con người có cùng ý tưởng đã giúp tôi vượt qua tất cả, đạt được một số kết quả trong nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao tiến bộ KHKT vào sản xuất nông nghiệp. Trong đó đáng kể nhất là thành công trong việc đưa các giống lúa lai vào sản xuất, chuyển đổi vụ Hè Thu thành chính vụ thay thế vụ mùa. Được sự ủng hộ nhiệt tình của ông Trần Quang Đạt - chủ tịch UBND tỉnh Nghệ Tĩnh lúc bấy giờ - và Ban quản lý Hợp tác xã Quỳnh Hồng - Quỳnh Lưu, năm 1982, tôi đã đưa giống lúa NN 75-10 là giống lúa lai vừa ngắn ngày, vừa chịu được nắng nóng tốt và chịu thâm canh khá do KS Tạ Minh Sơn (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam) lai tạo thành công vào sản xuất thử trong vụ Hè Thu tại Quỳnh Hồng. Vụ lúa đó thành công đúng như mong đợi. Đó là tiền đề để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu đưa các giống lúa lai khác về sản xuất tại quê hương. Năm 2004, tôi được nghỉ hưu theo chế độ. Với niềm say mê khoa học, tôi đã nhận lời hợp tác với ông Trương Văn Hiền - Giám đốc Công ty Vật tư nông nghiệp Nghệ An (Nay là Công ty CP Tổng Công ty Vật tư nông nghiệp Nghệ An) trong việc nghiên cứu, tổ chức khảo nghiệm và sản xuất thử các giống lúa mới. Từ đó đến nay, chúng tôi liên tục thành công trong việc khảo nghiệm một số giống lúa như: Q.ưu 1, Q.ưu 6 và đặc biệt gần đây nhất là Vật tư - NA1.
Tôi luôn tự thấy mình không phải là một cán bộ kỹ thuật có tài mà chỉ là một con người có hoài bão, có tham vọng nghiên cứu ra một giống lúa tốt để phục vụ bà con nông dân. Bởi họ là những con người hiền lành, lam lũ, suốt ngày dãi nắng dầm mưa mà vẫn không đủ ăn. Vì vậy, tôi tự nhủ mình phải cố gắng hết mình cho dù có khó khăn, vất vả đến đâu chăng nữa. Sự lăn lộn, bám ruộng, bám đồng, gần gũi với người nông dân trong suốt cuộc đời đã đem lại cho tôi thật nhiều niềm vui. Đối với tôi, thật không còn điều gì hạnh phúc hơn khi được chứng kiến những thành quả do chính công sức và trí tuệ của mình làm ra có ích người nông dân. Nhưng, cũng phải khẳng định rằng để có được những thành công đó, ngoài nỗ lực cá nhân, tôi đã rất may mắn, may mắn hơn rất nhiều người khác, vì đã nhận được sự tin cậy, sự ủng hộ hết lòng của nhiều vị lãnh đạo, các đồng nghiệp và của chính những người nông dân...”
Ông Nguyễn Long Vân - P. Nghi Hoà - Cửa Lò (Nuôi cá lóc đen cao sản): Nhờ biết ứng dụng tiến bộ của KHKT, chúng tôi đã làm giàu chính đáng bằng sức lao động của mình và phát triển ngay trên mảnh đất khô cằn của gia đình
“…Quê tôi ngoảnh trước ngoảnh sau đều chỉ thấy cát, xong mùa đi biển thì dân lại chẳng biết làm gì nên cuộc sống cứ nghèo lại hoàn nghèo. Thấy mà tiếc cho vùng đất bỏ không nhưng nuôi con gì, trồng cây gì cũng chết. Chẳng lẽ lại bó tay trong thời buổi KHKT ngày càng phát triển này hay sao? Tôi đọc báo, nghe đài thấy nói đến nhiều mô hình nuôi trồng thuỷ sản trên đất cát nên quyết tâm thử tìm cho vùng đất mình một con nuôi phù hợp. Tôi bỏ công sức, thời gian đi tham khảo các mô hình nuôi trồng thuỷ sản ở các địa phương khác từ Quảng Đông - Trung Quốc đến các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Tôi thử nuôi hết ba ba, ếch, rô phi đơn tính... nhưng đều không thành công và nhận thấy không thể đem các mô hình từ các nơi về áp dụng một cách rập khuôn. Rồi cuối cùng, sau những đổi mới để phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng, tôi đã thành công với cá lóc đen. Thấy có hiệu quả, tôi phổ biến cho bà con trong xóm cùng làm, rồi lan ra các xã miền núi Tây Hiếu - Nghĩa Đàn, Hưng Nguyên... Và chúng tôi đã thành lập ra Hội nuôi cá lóc cao sản.
Cá nuôi được trên đất cát rồi nhưng lại thêm một mối lo, đó là chỉ nuôi dồn dập một vụ thì cá nhiều tiêu thụ không hết, giá thấp lại thiệt thòi cho bà con mình. Tôi trăn trở lắm và lại tìm mọi cách để điều chỉnh nhiệt độ nước trong bể nuôi cho phù hợp với thân nhiệt của cá vào mùa đông. Nhờ sự hướng dẫn tận tình của cán bộ khoa học và tôi đã thành công. Sản lượng đạt cao, cá lại bán vào dịp Tết nguyên đán nên được giá. Đỉnh điểm nhất là vụ Đông năm 2008, có 130 hộ nuôi thành công và đã thu về 400 tấn cá thương phẩm. Bây giờ, chúng tôi có thể tự hào rằng nhờ biết ứng dụng tiến bộ của KHKT, chúng tôi đã làm giàu chính đáng bằng sức lao động của mình và phát triển ngay trên mảnh đất khô cằn của gia đình”.
Hộ gia đình anh Lê Xuân Nam, chị Nguyễn Thị Phấn (xóm 6 - Nghi Kiều - Nghi Lộc): Mong muốn của người dân chúng tôi là được áp dụng nhiều hơn nữa các tiến bộ KHKT trong sản xuất
“…Năm 2007, Trạm Khuyến nông Nghi Lộc phối hợp với Sở KH&CN Nghệ An triển khai dự án “Hỗ trợ xây dựng mô hình chăn nuôi bò nái sinh sản tại xã Nghi Kiều”. Được lựa chọn tham gia xây dựng mô hình của dự án, qua 2 năm thực hiện, gia đình chúng tôi nhận thấy nuôi bò nái thương phẩm cho hiệu quả lớn hơn nhiều so với nuôi bò thịt tự phát trước đây. Chăn nuôi bò thịt đòi hỏi công chăm sóc nhiều, giá trị chỉ đạt 8-10 triệu đồng/con/năm. Nay nuôi bò sinh sản, công chăm sóc không đáng kể, kết hợp với mô hình trồng cỏ voi đã đem lại hiệu quả cao. Với chi phí nuôi 1 triệu đồng/con bò/năm, 1 năm gia đình thu được 3 con bê, trung bình đạt giá trị 7-8 triệu đồng/con, cho lãi 21 triệu đồng. Với vốn bỏ ra ban đầu hơn 18 triệu, sau 1 năm là hoàn vốn và bắt đầu cho lợi lớn, nhờ đó kinh tế gia đình tốt hơn. Nhiều hộ gia đình trong xóm, trong huyện thấy mô hình hiệu quả đã chăn nuôi theo hướng mới này. Vì vậy, người dân chúng tôi rất mong được áp dụng nhiều hơn các tiến bộ KHKT mới để chăn nuôi, trồng trọt có hiệu quả hơn nữa, cải thiện đời sống…”
Hộ gia đình Ô. Phạm Xuân Thơ (Mô hình trồng rau an toàn: xóm 1 - Hưng Lợi - Hưng Nguyên): Mong muốn được các nhà khoa học đầu tư nhiều vào kỹ thuật hơn là đầu tư về cơ sở vật chất nhưng hình thức chuyển giao kỹ thuật phải đơn giản, dễ hiểu
“…Khi tham gia vào chương trình sản xuất rau sạch, chúng tôi được tham gia các lớp tập huấn, các hội thảo khoa học, được cung cấp tài liệu về kỹ thuật trồng rau an toàn và các thông tin liên quan. Chúng tôi nhận thấy sản xuất rau an toàn đầu tư không quá cao, công nghệ phù hợp với trình độ của người nông dân, sử dụng hoá chất nông nghiệp giảm nên tác động tốt đến môi trường và sức khoẻ. Đây là một mô hình nông nghiệp lý tưởng nên rất muốn sẽ được làm đại trà ngoài đồng chứ không chỉ dừng lại ở một số điểm như hiện nay. Những người trồng rau như chúng tôi muốn được các nhà khoa học đầu tư nhiều vào kỹ thuật hơn là đầu tư về cơ sở vật chất nhưng hình thức chuyển giao kỹ thuật phải đơn giản, dễ hiểu. Và đặc biệt điều mà chúng tôi quan tâm nhất sau khi sản xuất là khâu tiêu thụ. Khách hàng vẫn còn khó phân biệt giữa rau an toàn và rau không an toàn. Vì thế cần có một mạng lưới phân phối rau an toàn để đem lại niềm tin cho người tiêu dùng và để chúng tôi yên tâm sản xuất”.
Bà Lương Thị Lém (bản Lở - xã Xá Lượng - Tương Dương): (Hộ gia đình tham gia “Dự án ứng dụng tiến bộ KH-CN trồng đậu xanh trên đất sau nương rẫy”): Có hướng dẫn của cán bộ thì ta làm được
“…Đất ở chỗ ta xấu lắm, trồng lúa được 3 năm thì mất hết màu, ta lại đi làm nương mới, xa lắm. Cán bộ khoa học dưới xuôi lên bảo ta trồng đậu xanh giống mới trên nương rẫy cũ, ta không muốn làm. Trước đây ta chỉ trồng đậu xanh trên nương mới thôi, không trồng trên nương cũ như cán bộ đâu. Cán bộ thuyết phục mãi thì ta trồng nhưng dân bản đều nói trồng cũng không có quả đâu, đất xấu lắm.
Cán bộ hướng dẫn thế nào thì ta làm như thế. Đến khi thu hoạch, ta và dân bản mừng lắm, đậu cho nhiều quả. Nếu mà cán bộ đến sớm hơn thì đất ta không bỏ hoang lâu như thế, phí lắm, lại phải đi đốt rừng nơi khác. Cảm ơn cán bộ vì nhờ có cán bộ hướng dẫn kỹ thuật nên ta vẫn có thể trồng cây đậu trên đất đã trồng lúa, không phải đi khai hoang đất mới. Trồng đậu trên nương cũ vừa gần nhà, lại có đậu để bán nên có tiền mua sách vở cho con đi học. Bây giờ trồng cây gì mà có hướng dẫn của cán bộ thì ta cũng làm được”.
* Ông Hồ Văn Hoàn - GĐ Công ty TNHH Hồ Hoàn Cầu (xóm 6 - Quỳnh Văn - Quỳnh Lưu): Để nghiên cứu, ứng dụng hiệu quả tiến bộ KH-CN trong sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp rất cần được hỗ trợ
“…Vấn đề được người sản xuất quan tâm hàng đầu hiện nay là sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao, trong đó công nghệ sản xuất, công nghệ chế biến sau thu hoạch để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm đóng vai trò quan trọng. Là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cơ khí chế tạo, ý thức về vấn đề này, lãnh đạo và đội ngũ công nhân kỹ thuật của công ty chúng tôi đã không ngừng nghiên cứu, sáng tạo để luôn cho ra đời những sản phẩm mới, phục vụ đời sống sản xuất của bà con như: bếp tiết kiệm nhiên liệu; máy bằm rau, thái chuối dùng cho hộ chăn nuôi gia đình; máy tẻ ngô mi-ni; máy ép sản xuất gạch không nung; máy cắt thuốc lào... Các sản phẩm đều được thị trường đón nhận, phục vụ sản xuất khá hiệu quả. Vì vậy, để nâng cao hơn nữa hiệu quả nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ KH-CN trong sản xuất, kinh doanh là mong mỏi không của riêng doanh nghiệp chúng tôi. Thời gian tới, doanh nghiệp rất mong có sự chỉ đạo tập trung, quyết liệt hơn của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đặc biệt có các chính sách ưu tiên về nguồn nhân lực, kinh phí phục vụ nghiên cứu, đồng thời động viên và khen thưởng kịp thời để tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nghiên cứu sáng tạo khoa học, cải tiến các sản phẩm ngày càng tốt hơn, đóng góp vào sự phát triển chung của toàn xã hội.”
Ông Phan Văn Hoà - Giám đốc Công ty TNHH Vĩnh Hoà (Vĩnh Thành - Yên Thành): Biết ước mơ và có kiến thức khoa học thì sẽ thành công
“…Tôi sinh ra ở đất lúa nên cả trong giấc ngủ tôi cũng chỉ mơ về lúa. Tôi ước mơ hạt lúa quê mình sẽ trở thành sản phẩm nổi tiếng. Lúc đó ở quê tôi nhà nhà trồng lúa lai, năng suất tuy cao nhưng chất lượng hạt gạo lại không cao, khi bán người dân bị ép giá. Tôi nghĩ cần có một giống lúa tốt, cho năng suất cao và chất lượng cũng phải tốt. Tôi đã tìm đến các nhà khoa học và được tư vấn lựa chọn 10 giống lúa khác nhau mang về thử nghiệm. Cũng có nhiều thất bại cay đắng lắm, có khi cả thửa ruộng bị sâu bệnh bạc trắng, có lúc nhìn cả cánh đồng gần đến kỳ thu hoạch, sau một trận mưa lúa đổ rạp hết, xót xa vô cùng. Nhưng ước mơ về cánh đồng lúa nặng hạt lại thôi thúc tôi.
Sau 4 năm khảo nghiệm, trình diễn trên nhiều thửa ruộng, nhiều địa hình khác nhau và nhiều giống lúa kết quả cho thấy giống lúa AC5 rất phù hợp với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng quê mình. Đây là giống lúa thuần cho năng suất cao và chất lượng gạo thơm ngon, chống chịu được sâu bệnh. Để chủ động sản xuất giống lúa AC5, tôi đã xây dựng quy trình sản xuất giống từ siêu nguyên chủng thành nguyên chủng và từ nguyên chủng thành giống lúa xác nhận. Do đó sản phẩm lúa của quê tôi không những có năng suất cao mà còn bán được giá hơn so với lúa lai. Giờ đây, AC5 đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là giống lúa quốc gia. Thành công này không những đem lại cho tôi niềm tin để tiếp tục thực hiện ước mơ sản xuất nông nghiệp bền vững mà còn góp phần phát triển kinh tế cho quê lúa Yên Thành. Tôi nghĩ nếu biết ước mơ và có kiến thức khoa học chúng ta sẽ thành công”.
Thông tin KH&CN Nghệ An