Các HĐ khoa học
Quản lý khoa học
Quản lý công nghệ
Sở hữu trí tuệ
An toàn bức xạ và hạt nhân
Hoạt động sáng tạo KHCN
QL Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng
HĐ Thông tin KHCN và Tin học
Hoạt động QL KHCN cấp huyện
Hoạt động thanh tra KHCN
Hoạt động Khoa học XH và nhân văn
Thông tin tổng hợp
Các hội đồng KHCN
Hội đồng KHCN cấp tỉnh
Hội đồng KHCN cấp ngành
HĐ KHCN cấp huyện-thành-thị
Viện nghiên cứu
Các trường ĐH-CĐ-THCN
Các đơn vị KHCN chuyên ngành
Văn bản pháp quy
Nghị định
Nghị quyết
Quyết định
Quy định
Chỉ thị
Thông tư
KTTV vùng BTB
Bản tin Khí tượng thủy văn vùng Bắc Trung Bộ
Phổ biến KHKT
Trồng trọt
Kỹ thuật chăn nuôi
CÁC BIỂU MẪU
Đăng ký đề tài dự án
Đăng ký hoạt động KHCN
Thủ tục cấp phép HĐ cơ sở X quang y tế
THỐNG KÊ
Lượt truy cập: 2469752
Đang online: 8
 
 
 
 
 
 
 
 Hôm nay 10/9/2010 Trang chủ | Giới thiệu Sở KH-CN | Tìm kiếm |
Trang chủ > Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ
Cập nhật ngày 9/2/2010 (GMT+7)
Một số nhân vật lịch sử và công trình khoa học ra đời năm Canh Dần

Ở một số nước châu Á như nước ta, theo âm lịch, tên năm, tháng, ngày đều theo chu kì ghép 10 thiên can với 12 địa chi, bội số chung nhỏ nhất của 10 và 12 là 60 nên cứ 60 năm, tên năm lại được lặp lại. Năm 2010 là năm Canh Dần, vậy các năm 1950, 1890, 1830, 1770, 1710... đều là năm Canh Dần. Trong bài này chỉ giới thiệu một số nhân vật lịch sử và các công trình khoa học và công nghệ ra đời vào năm Canh Dần đã được các sử gia thừa nhận là chính xác.

 

Một số nhân vật lịch sử tuổi Canh Dần

Nhân vật lịch sử tuổi Canh Dần nổi tiếng nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh, sinh ngày 19/5/1890 (là năm Canh Dần cách hai chu kì 60 năm đúng bằng 120 năm). Bác Hồ là lãnh tụ vĩ đại của nhân dân ta, danh nhân văn hóa thế giới, được nhân dân lao động và những người yêu hòa bình trên thế giới ngưỡng mộ. Các nhà giáo và thầy thuốc Việt Nam đi làm chuyên gia ở các nước châu Phi gặp nhiều người dân sở tại, khi nghe nói là người Việt Nam, họ đều hô lớn: “Việt Nam - Hồ Chí Minh”. Hầu hết các nhà lãnh đạo các nước châu Mỹ La tinh thuộc cánh tả đều coi Bác Hồ là người thầy cách mạng của họ.

Cùng tuổi Canh Dần với Bác Hồ có Linh mục Hồ Thành Biên, sinh ra trong một gia đình nghèo ở xã Thới Thuận, huyện Thốt Nốt, tỉnh Long Xuyên. Năm 1921, ông được phong linh mục tại tòa Giám mục Phnôm Pênh (Campuchia). Sau đó ông về nước phục vụ các họ đạo thuộc giáo phận miền Nam. Ông đã kêu gọi giáo dân tham gia khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 rồi ra bưng biền tham gia kháng chiến chống Pháp. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc giữ các chức vụ: Phó Chủ tịch thứ Nhất Ủy ban liên lạc công giáo toàn quốc; Ủy viên Ủy Ban thường vụ Quốc hội các khóa II, III và IV; Ủy viên Trung ương, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Ủy viên Ủy ban Đoàn kết Á - Phi của Việt Nam; Ủy viên Hội đồng bảo vệ Hòa bình thế giới của Việt Nam. Tháng 9/1975, Linh mục Hồ Thành Biên trở về miền Nam và qua đời tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 19/5/1976.

Một nhà giáo nổi tiếng người Hà Nội là Nguyễn Văn Ngọc cũng sinh năm Canh Dần 1890. Ông đã dạy học ở trường Bưởi, trường Sư phạm, trường hậu bổ...; làm thanh tra các trường Sơ học, phụ trách Tu thư cục của nhà Học chính Đông Dương; viết nhiều sách giáo khoa và sách nghiên cứu như Tục ngữ phong dao (1928), Truyện cổ nước Nam (1932-1934), biên dịch Cổ học tinh hoa, nghiên cứu về câu đối...; từng làm Hội trưởng Hội Ái hữu các nhà giáo (1925-1927). Ông mất năm 1942.

Trên đất Lam Hồng, có nhà nghiên cứu văn học, nhà sư phạm nổi tiếng là Lê Thước. Ông sinh năm Canh Dần 1890 tại làng Lạc Thiên, nay là xã Đức Trung - Đức Thọ - Hà Tĩnh. Ông tốt nghiệp Thành chung tại trường Quốc học Huế, rồi tốt nghiệp trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương ở Hà Nội. Năm 1918, ông đậu Giải nguyên - đỗ đầu kỳ thi Hương cuối cùng ở trường thi xứ Nghệ, được bổ dụng làm giáo sư các trường Quốc học Vinh, Lạng Sơn, Thanh Hóa và trường Trung học Pháp ở Hà Nội. Nhà sư phạm Lê Thước luôn nêu cao tinh thần dân tộc, phương pháp khoa học trong dạy và học. Trong nghiên cứu văn học, ông nổi tiếng với nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Trần Tế Xương, Nguyễn Thượng Hiền... Là người yêu nước, ngay sau cách mạng tháng Tám 1945, ông đã hăng hái đi theo cách mạng, đảm nhiệm nhiều công tác như Ủy viên Mặt trận Liên Việt toàn quốc, Chủ tịch Ủy ban tản cư và Ủy ban tăng gia sản xuất tỉnh Thanh Hóa. Khi hòa bình được lập lại năm 1954, ông tiếp tục làm việc ở Bộ Giáo dục rồi Bộ Văn hóa. Nhiều công trình nghiên cứu về sử học của ông được ra đời trong thời gian này. Ông qua đời năm 1975.

Tuổi Canh Dần 1830 có Phan Văn Trị, một trí thức yêu nước. Ông sinh ra ở xã Thạch Phú Đông, huyện Bảo An nay thuộc huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, đậu cử nhân năm 1849, nhưng không thích làm quan, rất ghét bọn phong kiến vô tài hống hách và mục nát. Trong lúc bao người tham danh hám lợi, Phan Văn Trị vẫn giữ tiết tháo của kẻ sĩ thanh bạch, yêu nước yêu dân. Sau khi đậu cử nhân, ông lui về ở ẩn, dạy học, làm ruộng vui sống với nông dân, thỉnh thoảng ngâm vịnh với các bạn chí thân như Đồ Chiểu và thủ khoa Nghĩa. Năm 1859, thực dân Pháp xâm lược Nam Kỳ. Ngay từ đầu, ông là một trong những người kiên trì chủ trương kháng chiến và hăng hái cùng nhân dân đánh giặc. Ông đã dùng ngòi bút để phục vụ cho công cuộc kháng chiến và đi tiên phong trong cuộc bút chiến sôi nổi giữa sĩ phu yêu nước với tên bán nước Tôn Thọ Tường. Ông lôi kéo được đông đảo sĩ phu Nam Kỳ như Bùi Hữu Nghĩa, Hồ Huân Nghiệp, Huỳnh Mẫn Đạt... tham gia cuộc bút chiến. Các bài viết của ông có ảnh hưởng chính trị rất lớn trong cả nước. Kẻ địch tìm cách mua chuộc, dụ dỗ nhưng ông không chịu khuất phục. Ông sống trong sạch trong cảnh nghèo khó với nghề dạy học ở nơi thôn dã và mất năm 1910.

Năm Canh Dần 1650 là năm sinh của một danh tướng của chúa Nguyễn Đàng Trong tên là Nguyễn Hữu Cảnh (Kính). Ông có công thành lập dinh Trấn Biên (Biên Hòa), Phiên Trấn (Gia Định). Tổ tiên ông ở Hà Trung, Thanh Hóa. Năm 1692, ông làm Tổng binh đánh dẹp cuộc nổi dậy của bà Tranh và lập trấn Thuận Thành (thuộc Ninh Thuận, Bình Thuận ngày nay). Sau đó lại dẹp cuộc nổi dậy của A - Ban cấu kết với Ôc - Nha - That. Nhờ đó ông được giữ chức Trấn thủ dinh Bình Khang (vùng Khánh Hòa và Bình Thuận). Năm 1698, ông được cử làm Thống suất chưởng cơ kinh lược vùng Gia Định (Đồng bằng sông Cửu Long). Ông đã xây dựng được hệ thống tổ chức hành chính các cấp và chiêu tập dân nghèo khai hoang định cư lập làng xóm. Nhiều ấp ở Gia Định lập đền thờ ông làm Thành Hoàng.

Nhà sử học nổi tiếng đầu tiên của nước ta là Lê Văn Hưu, sinh năm Canh Dần 1230 ở Đông Sơn, Thanh Hóa. Năm 1297, nhà vua tổ chức khoa thi ở Kinh Thành, ông thi đỗ Bảng Nhãn - vị Bảng nhãn đầu tiên của nước ta. Ông được vào làm ở Viện hàn lâm rồi thăng tiến dần lên chức Thượng thư Bộ Binh. Do hiểu biết sâu rộng, ông được cử làm Giám tu Quốc sử viện, biên soạn bộ lịch sử của đất nước. Trong lúc cả nước đang hăng hái chuẩn bị kháng chiến chống Nguyên Mông xâm lược, ông đã nhanh chóng hoàn thành trách nhiệm được giao. Năm 1272, bộ Đại Việt sử ký đã được dâng lên vua nhà Trần. Bộ sử ghi lại quá trình phát triển của đất nước từ thời Triệu cho đến cuối thời Lý đã trở thành tư liệu cơ sở cho nhà sử học thế kỷ XV là Ngô Sỹ Liên hoàn thành bộ Đại Việt sử ký toàn thư. Tiếc rằng bộ sử của Lê Văn Hưu nay không còn nữa. Ông mất năm 1322.

 

Một số công trình khoa học thế giới ra đời năm Canh Dần

Trong những năm Canh Dần cũng có nhiều công trình khoa học và công nghệ tiêu biểu ra đời.

Năm Canh Dần 1950, Alan Mathison Turing (1912-1954) công bố công trình “Máy tính và trí tuệ”, là công trình đầu tiên liên quan đến trí tuệ nhân tạo. Cũng trong năm này, lần đầu tiên xuất hiện máy tính có màn hình biểu hiện các kết quả tính toán tại cơ quan theo dõi môi trường bán tự động của Mỹ và cũng lần đầu tiên có máy công cụ (máy phay) điều khiển số.

Năm Canh Dần 1890, Đài Thiên văn Hawai (Cambridge - Mỹ) công bố danh mục quang phổ các sao dưới sự chỉ đạo của E.Pikering. Sự phân loại này dựa vào cường độ tương đối của các vạch quang phổ và chia các sao thành các lớp O, B, A, F, G, K, M. Danh mục chứa 10.351 ngôi sao ở bắc thiên cầu đến xích vĩ 25 độ Nam. Công trình này là cơ sở để nghiên cứu sự tiến hóa của các sao, trong đó có mặt trời của chúng ta. Về y học, Emil Von Behring (1854-1917) phát hiện chất kháng thể đầu tiên, kháng độc tố bạch hầu. Trong công nghệ, Edouard Branly ở Pháp nghĩ ra Côhêrơ dùng mạch kim loại cho phép thu các tín hiệu vô tuyến điện. Ở Luân Đôn, lần đầu tiên có đường xe điện ngầm chạy điện.

Năm Canh Dần 1830, ở Đức, Jutus Von Liebig (1803-1873) hoàn chỉnh phương pháp phân tích các hợp chất hữu cơ. Ở Pháp, Barthilemy Thimonnier (1793-1857) đăng ký bằng phát minh chiếc máy khâu đầu tiên.

Năm Canh Dần 1770, ở Pháp, Joseph Cugnot (1725-1804), Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Pari phát hiện một sao Chổi sáng như ngôi sao cấp 2, nhìn thấy rõ bằng mắt trần. Sau đó nhà thiên văn Nga là Anđrei Ivanovich Lecxen (1740-1784) tính được chu kì của nó quanh Mặt Trời là 5,6 năm. Các sao Chổi loại này bị lực hấp dẫn của Mộc tinh gây nên nhiễu loạn có thể chuyển từ qũy đạo Parabon và ngược lại.

Ngày nay khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão, đến năm Canh Dần 2010 chắc chắn sẽ có nhiều công trình khoa học công nghệ mới và những danh nhân về những lĩnh vực mới mà hiện nay chúng ta chưa thể hình dung một cách đầy đủ được./.


Nguyễn Đình Noãn

Quay lại
In bản tin này
Các tin tức khác
Nghề cổ xứ Nghệ ()
Năm Dần - bàn chuyện bảo tồn loài hổ ()
Các ông nghè Nghệ An đỗ đạt trong năm Dần ()
Một số món ăn trong ngày Tết ở xứ Nghệ ()
Một góc văn hoá Việt qua lăng kính ẩm thực ()
Tranh Hàng Trống và giải mã bức tranh thờ Ngũ hổ ()
Liên hệ
TÌM KIẾM NHANH
Tìm chi tiết?
 
 
CHUYÊN ĐỀ TRUYỀN HÌNH
Sở hữu trí tuệ và cuộc sống số 4.2010
 
THỜI GIAN-LỊCH
 
NHẬN THÔNG TIN
Họ tên:
E-mail:
 
 
 
 
   
© Trang tin điện tử hoạt động KHCN Nghệ An
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An TBT: Trần Xuân Bí - Toà soạn: 75A Minh Khai, Tp Vinh, Nghệ An
® Ghi rõ nguồn "KHCN Nghệ An" khi phát hành lại thông tin từ website này.
Các trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. KHCN Nghệ An không chịu trách nhiệm nội dung các trang ngoài.