Các HĐ khoa học
Quản lý khoa học
Quản lý công nghệ
Sở hữu trí tuệ
An toàn bức xạ và hạt nhân
Hoạt động sáng tạo KHCN
QL Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng
HĐ Thông tin KHCN và Tin học
Hoạt động QL KHCN cấp huyện
Hoạt động thanh tra KHCN
Hoạt động Khoa học XH và nhân văn
Thông tin tổng hợp
Các hội đồng KHCN
Hội đồng KHCN cấp tỉnh
Hội đồng KHCN cấp ngành
HĐ KHCN cấp huyện-thành-thị
Viện nghiên cứu
Các trường ĐH-CĐ-THCN
Các đơn vị KHCN chuyên ngành
Văn bản pháp quy
Nghị định
Nghị quyết
Quyết định
Quy định
Chỉ thị
Thông tư
KTTV vùng BTB
Bản tin Khí tượng thủy văn vùng Bắc Trung Bộ
Phổ biến KHKT
Trồng trọt
Kỹ thuật chăn nuôi
CÁC BIỂU MẪU
Đăng ký đề tài dự án
Đăng ký hoạt động KHCN
Thủ tục cấp phép HĐ cơ sở X quang y tế
THỐNG KÊ
Lượt truy cập: 2469736
Đang online: 16
 
 
 
 
 
 
 
 Hôm nay 10/9/2010 Trang chủ | Giới thiệu Sở KH-CN | Tìm kiếm |
Trang chủ > Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ
Cập nhật ngày 10/2/2010 (GMT+7)
Mô hình chăn nuôi bò thịt thương phẩm ở Đô Lương

Mô hình chăn nuôi bò thịt thương phẩm ở Đô Lương

 

Tên dự án:  Hỗ trợ mô hình chăn nuôi bò thịt thương phẩm trên địa bàn huyện Đô Lương

Chủ nhiệm dự án:  Nguyễn Công Châu

Cơ quan chủ trì thực hiện: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Đô Lương

Thời gian thực hiện:  9/2006 - 9/2009

 


I. Đặt vấn đề

Đô Lương là một huyện thuần nông, hơn 80% dân số tham gia sản xuất nông nghiệp. Chăn nuôi là một thế mạnh của huyện, tuy nhiên chăn nuôi ở đây vẫn chủ yếu là nuôi quảng canh, tận dụng. Đàn bò của huyện đã có sự tăng nhanh về số lượng nhưng nhìn chung chất lượng chưa cao, phần lớn vẫn là bò vàng (bò địa phương), bò lai mới chỉ đạt 40%. Vì vậy, để tăng số lượng, chất lượng giá trị hàng hóa của đàn bò thì việc sử dụng các tiến bộ kỹ thuật, xây dựng những giải pháp công nghệ về chuồng trại, con giống, trồng cỏ, chế biến các phụ phế phẩm nông nghiệp là hết sức cần thiết, để đảm bảo chăn nuôi bò ở Đô Lương phát triển bền vững và đem lại hiệu quả kinh tế cao.

Đứng trước thực tế đó, nhằm khắc phục những tồn tại trong chăn nuôi và khai thác triệt để điều kiện tự nhiên sẵn có tại địa phương, tận dụng nguồn nhân lực tại chỗ, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ (KH-CN) để chăn nuôi trâu bò thực sự trở thành ngành sản xuất chính, đồng thời tạo đà cho ngành chăn nuôi của huyện phát triển một cách nhanh chóng, bền vững và ổn định, dự án “Hỗ trợ mô hình chăn nuôi bò thịt thương phẩm trên địa bàn huyện Đô Lương” đã được triển khai.

II. Kết quả thực hiện

1. Tổ chức tham quan học tập kinh nghiệm và tập huấn

Nhằm cung cấp kiến thức cho nhân dân, dự án đã tổ chức tham quan học tập kinh nghiệm cho 20 người tại Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay là Ba Vì, Hà Nội) và xã Xuân Quang, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Sau thời gian tham quan học tập kinh nghiệm, nhân dân đã nhận biết được các giống cỏ, giống bò có tỷ lệ máu ngoại cao; học tập thêm kinh nghiệm chế biến và bảo quản thức ăn. Đặc biệt, đây là cơ hội để người dân nâng cao kiến thức chăn nuôi bò qua trao đổi kinh nghiệm.

Trong 3 năm, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH-CN Nghệ An (đơn vị trực tiếp đào tạo, tập huấn chuyển giao các quy trình kỹ thuật chăn nuôi bò thương phẩm và trồng cỏ của dự án) đã tổ chức tập huấn cho người dân tham gia dự án trong thời gian 12 ngày tại xã Thuận Sơn về các quy trình: Kỹ thuật chọn giống bò nuôi thịt; Kỹ thuật trồng và chăm sóc các loại cỏ; Kỹ thuật chế biến thức ăn cho bò thịt; Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng bò lai hướng thịt; Kỹ thuật phòng và điều trị bệnh cho bò; Kỹ thuật xây dựng chuồng trại, hầm biogas xử lý chất thải chăn nuôi.

2. Kết quả xây dựng mô hình bò chăn nuôi thương phẩm

a. Tổ chức chăn nuôi bò thịt

- Về điều kiện chuồng trại: Cần xây dựng trên diện tích 3-4m2/con, nền chuồng láng bằng xi măng (nhưng không trơn trượt), có máng ăn, máng uống phân biệt, bảo đảm kín ấm vào mùa đông và thoáng mát vào mùa hè. Đặc biệt, có hệ thống thu gom phân và nước thải để đưa vào hầm biogas hoặc xử lý theo phương pháp sinh học.

- Về kết quả nuôi dưỡng và sinh trưởng của bò: Lựa chọn bò giống cũng là một khâu quan trọng bảo đảm sự thành công của dự án. 70 con bê lai Sind - Zebu khỏe mạnh, không mang bệnh tật, bảo đảm chất lượng theo quy định đã được lựa chọn. Số bê mua được phân bố đều cho các hộ gia đình. Trong quá trình nuôi, bò được bảo đảm thức ăn về số lượng cũng như chất lượng, được phòng trừ dịch bệnh thường xuyên, chăn nuôi đúng quy trình kỹ thuật.


Ngoài việc cho bò ăn đủ thức ăn thô xanh, thức ăn tinh, các hộ đã cho bò uống nước sạch, đặc biệt còn áp dụng việc hòa muối vào thức ăn cho trâu bò uống tại chuồng. Về thức ăn xanh, ngoài cỏ tự nhiên, cỏ trồng, các hộ chăn nuôi đã biết tận dụng cây ngô non tỉa ở những trỉa dày, ngọn lá ngô tỉa bớt hay tỉa sau khi ngô trổ cờ, thụ phấn, kết hạt, dây lang, dây lạc tươi… Do vậy, đàn bò không những được cung cấp đầy đủ thức ăn mà thức ăn còn rất phong phú và đa dạng, tạo điều kiện để bò thu nhận lượng thức ăn tối đa so với nhu cầu của chúng.


Sau thời gian nuôi 15 tháng, nhờ được nuôi dưỡng và chăm sóc đúng kỹ thuật nên đàn bò lai Sind phát triển tốt. Khối lượng khởi đầu trung bình là 111,5kg/con, nay đạt khối lượng trung bình 322,5kg/con, mức tăng trọng bình quân là 14,06kg/con/tháng. Trong đó, điển hình ở một số gia đình, bò đạt mức tăng trưởng cao như hộ ông Nguyễn Văn Ái là 16,4kg/con/tháng. Qua đó cho thấy, nếu bò lai Sind - Zebu được quan tâm chăm sóc nuôi dưỡng tốt thì khi bò được 2 năm tuổi có thể đạt khối lượng trên 312kg/con, và còn có thể đạt tới 360kg/con.

b. Kết quả trồng cỏ


Trồng cỏ, tạo nguồn thức ăn ổn định cho vật nuôi là một phần được thực hiện trong dự án. Kết quả trồng cỏ cho thấy, các giống cỏ được trồng tại xã Thuận Sơn có tốc độ sinh trưởng và phát triển nhanh, hơn 60 ngày các loại cỏ đã đạt chiều cao 1m và cỏ voi đạt tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, số nhánh nhiều nhất. Tốc độ sinh trưởng, phát triển và khả năng đẻ nhánh của cây cỏ voi là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cỏ.


Thời gian thu hoạch cỏ lứa một là 80-90 ngày/lứa, khoảng cách các lứa sau là 40-45 ngày/lứa, mỗi năm thu hoạch 6 lứa. Năng suất cỏ voi là 261,5 tấn/ha/năm, cỏ Ghi nê là 138,1 tấn/ha/năm và cỏ Sweet Jumbo là 207,7 tấn/ha/năm/. Sau 3 năm thực hiện, dự án đã cho thu hoạch một khối lượng cỏ khá lớn: 1,596 tấn cỏ voi, 414,3 tấn cỏ Ghi nê và 207,7 tấn cỏ Sweet Jumbo.

c. Kết quả xây dựng hầm biogas

Nhờ ứng dụng công nghệ hầm biogas của Viện năng lượng có thiết kế phù hợp với điều kiện hộ gia đình, trang trại nên đã tận dụng tối đa nguồn chất thải từ sinh hoạt của người và trâu bò, kết hợp với cây phân xanh làm nguyên liệu đầu vào cho hầm biogas. Sau 3 năm thực hiện, dự án đã tiến hành xây dựng 12 hầm biogas, trong đó có 2 hầm quy mô trang trại và 10 hầm quy mô hộ gia đình. Hiện nay tất cả các hầm biogas đều hoạt động tốt, cung cấp chất đốt cho sinh hoạt và sử dụng thắp sáng cho các hộ gia đình, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, hạn chế dịch bệnh.

3. Kết quả hội thảo đầu chuồng

Hội thảo đã thảo luận và thống nhất một số vấn đề như: Để nuôi bò thương phẩm có hiệu quả cần chọn được giống bò có chất lượng đảm bảo có 3/4 máu ngoại, bò giống có tuổi từ 6-7 tháng tuổi; Việc trồng cỏ mang lại hiệu quả kinh tế cao, tuy nhiên đòi hỏi nguồn vốn lớn, bởi vậy cần nhân rộng mô hình từ thấp đến cao; Nhà nước nên có chính sách hỗ trợ một phần vốn đầu tư về con giống; Để đảm bảo tốc độ tăng trưởng, chính quyền địa phương cần tăng cường vấn đề phòng chống dịch bệnh để người chăn nuôi yên tâm đầu tư; Đề nghị Trạm khuyến nông cần tiếp tục chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật và chăn nuôi bò thương phẩm cho các xã.

4. Hiệu quả kinh tế - xã hội

- Về hiệu quả kinh tế: Qua theo dõi thu chi cho thấy, đầu tư 1 con bò trong 15 tháng, người chăn nuôi có thể thu được lãi ròng là 3.605.000 đồng.

- Về hiệu quả xã hội: Thông qua các hoạt động của dự án đã nâng cao trình độ dân trí, nhận thức về KH-CN cho nhân dân trong vùng dự án. Từ đó giúp nhân dân thay đổi tư duy, biết cách làm ăn, hiểu sâu hơn về khoa học kỹ thuật, thấy được lợi ích lâu dài mà dự án đem lại. Tạo được mô hình chăn nuôi bò thịt chăn thả và bổ sung thức ăn tại chuồng theo quy mô hộ gia đình, tạo sản phẩm bò thịt hàng hóa có chất lượng và hiệu quả kinh tế cao hơn so với tập quán chăn nuôi cũ. Tăng nguồn thu ngân sách cho địa phương từ thuế thông qua việc mua, bán bò thịt khi quy mô đàn mạnh. Phát huy hiệu quả các nguồn lợi sẵn có của địa phương.

5. Khả năng nhân rộng mô hình

Dự án được xây dựng trên cơ sở thực tiễn và khoa học, các chỉ tiêu về kỹ thuật được áp dụng đơn giản, dễ hiểu, sát thực với người chăn nuôi nên sự thành công của Dự án sẽ là tiền đề cho các mô hình tiếp theo trong địa bàn huyện và trong tỉnh. Các quy trình được ứng dụng và hoàn thiện sẽ phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng để người dân áp dụng tạo điều kiện nhân rộng mô hình cả về quy mô và số lượng trên diện rộng.

III. Kết luận

Qua 3 năm thực hiện cho thấy: Nhân dân trong vùng dự án đã tiếp nhận và làm chủ được các quy trình kỹ thuật chọn giống bê nuôi thịt; kỹ thuật trồng và chăm sóc các loại cỏ, kỹ thuật chế biến thức ăn cho bò thịt, kỹ thuật chăm sóc bò lai hướng thịt, kỹ thuật phòng và điều trị bệnh cho bò, kỹ thuật xây dựng chuồng trại và hầm biogas; Thấy rõ hiệu quả của việc chăn nuôi bò thịt thương phẩm giống lai Zebu nuôi nhốt có bổ sung thức ăn đã triển khai thực hiện tại xóm 1, xóm 2 - xã Thuận Sơn; Đảm bảo đầy đủ từng nội dung và tiến độ thực hiện, mở ra một hướng đi mới trong phát triển kinh tế hộ gia đình. Dự án đã xây dựng thành công 2 mô hình chăn nuôi bò thương phẩm quy mô trang trại và hộ gia đình, đã nuôi được 70 con bò thương phẩm với tổng sản lượng đạt 322,5 tấn bò xuất chuồng, giá trị kinh tế thu được là 970.200.000 đồng.

Đây là mô hình chăn nuôi bò thịt kinh tế cao, phù hợp với điều kiện tự nhiên của nhiều địa phương trong tỉnh. Vì vậy, đề nghị nên tiếp tục đầu tư hỗ trợ kinh phí nhân rộng mô hình ra các vùng phụ cận./.


Quay lại
In bản tin này
Các tin tức khác
Vi khuẩn lam trong đất trồng lúa huyện Hưng Nguyên ()
GIải pháp phòng trừ sâu xanh, sâu khoang hại lạc ở Nghi Lộc ()
Mô hình hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội tại xã Mường Ải, huyện Kỳ Sơn ()
Chăn nuôi lợn hướng nạc đạt năng suất, chất lượng cao an toàn dịch bệnh và vệ sinh môi trường ở Nghệ An ()
10 sự kiện khoa học - công nghệ Nghệ An năm 2009 ()
Liên hệ
TÌM KIẾM NHANH
Tìm chi tiết?
 
 
CHUYÊN ĐỀ TRUYỀN HÌNH
Sở hữu trí tuệ và cuộc sống số 4.2010
 
THỜI GIAN-LỊCH
 
NHẬN THÔNG TIN
Họ tên:
E-mail:
 
 
 
 
   
© Trang tin điện tử hoạt động KHCN Nghệ An
Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An TBT: Trần Xuân Bí - Toà soạn: 75A Minh Khai, Tp Vinh, Nghệ An
® Ghi rõ nguồn "KHCN Nghệ An" khi phát hành lại thông tin từ website này.
Các trang ngoài sẽ được mở ra ở cửa sổ mới. KHCN Nghệ An không chịu trách nhiệm nội dung các trang ngoài.