Tên dự án: Ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ (KH-CN) xây dựng mô hình hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội tại xã Mường Ải, huyện Kỳ Sơn
Chủ nhiệm dự án: KS. Lầu Bá Tểnh
Cơ quan chủ trì thực hiện: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Kỳ Sơn
Thời gian thực hiện: 10/2007 - 10/2009
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Mường Ải là một xã vùng biên của huyện Kỳ Sơn, nằm cách thị trấn Mường Xén 50km về phía Tây Nam nên điều kiện sống gặp nhiều khó khăn: Địa hình đồi núi hiểm trở, giao thông trở ngại, nhất là vào mùa mưa; Người dân chỉ sản xuất 1 vụ lúa/năm, chăn nuôi trâu bò theo phương thức thả rông vào rừng, sự trao đổi hàng hóa chưa phát triển, chủ yếu là tự cung tự cấp nên đời sống rất vất vả, thường đói vào mùa giáp hạt (tháng 6-8); Chưa có điện lưới quốc gia, một số hộ lắp máy thủy điện nhỏ công suất 0,5 KW/h nhưng mới chỉ phục vụ thắp sáng, không phát huy được tiềm năng nguồn nước của vùng, công suất máy và hiệu suất sử dụng điện năng lại không cao; Chưa có đài phát thanh thôn bản nên việc tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, việc thông báo sinh hoạt của các tổ chức đoàn thể không kịp thời và khó khăn…
Vì vậy, dự án “Ứng dụng tiến bộ KH-CN xây dựng mô hình hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội tại xã Mường Ải, huyện Kỳ Sơn” đã được triển khai thực hiện nhằm các mục tiêu: Đưa lúa vụ Xuân vào sản xuất tăng vụ, giúp dân thay đổi phương thức sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích, xóa đói giảm nghèo và cung ứng lương thực cho bà con vào mùa giáp hạt; Tận dụng địa hình dốc, nhiều khe suối để lắp máy thủy điện nhỏ cung cấp nguồn năng lượng điện tại chỗ phục vụ thắp sáng và sinh hoạt; Từ đó ứng dụng công nghệ tin học văn phòng vào công tác quản lý điều hành của xã, lắp đặt đài phát thanh thôn bản, từng bước cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người dân, góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng vùng biên, bảo vệ môi trường và hạn chế việc phá rừng làm nương rẫy.
II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN
1. Điều tra khảo sát xây dựng mô hình
Tìm hiểu được phương thức canh tác lúa nước của người dân (giống, phân bón, nước tưới, sâu bệnh hại lúa, phương thức canh tác…); Lựa chọn được cánh đồng và các hộ dân tham gia triển khai xây dựng mô hình sản xuất lúa nước vụ Xuân (tại bản Xốp Lau quy mô 1ha do 1 hộ dân thực hiện và bản Pủng quy mô 2ha do 8 hộ dân thực hiện); Lựa chọn địa điểm lắp đặt 3 máy thủy điện nhỏ, hệ thống điện thắp sáng và sinh hoạt cho UBND xã, trạm xá xã, trường PTCS Mường Ải; Lắp đặt 1 bộ máy vi tính cho UBND xã Mường Ải.
2. Xây dựng mô hình sản xuất lúa nước vụ Xuân
2.1. Kết quả đào tạo, tập huấn quy trình sản xuất lúa nước vụ Xuân cho đồng bào dân tộc vùng triển khai dự án
Phòng NN&PTNT huyện Kỳ Sơn phối hợp với Trạm Bảo vệ thực vật huyện Kỳ Sơn đã tập huấn quy trình kỹ thuật sản xuất lúa nước vụ Xuân trên ruộng bậc thang cho Ban khuyến nông khuyến lâm xã Mường Ải, bí thư, trưởng phó bản và các hộ dân tham gia xây dựng mô hình (35 người) về: kỹ thuật làm đất, gieo mạ, cấy và chăm sóc lúa; phân chuồng, phân xanh và cách sản xuất phân hữu cơ đạt tiêu chuẩn bón ruộng; cách tưới và chế độ nước thích hợp cho lúa; sâu bệnh hại lúa và các biện pháp phòng trừ. Qua lớp đào tạo, các cán bộ kỹ thuật của xã, bí thư, trưởng bản và các hộ dân đã nắm vững quy trình kỹ thuật, có khả năng trực tiếp triển khai và làm chủ quy trình sản xuất. Chuyển giao theo phương pháp cầm tay chỉ việc, thực hành và giảng dạy trực tiếp trên đồng ruộng.
2.2. Kết quả tổ chức sản xuất
Mô hình được triển khai trên cánh đồng 3ha tại bản Pủng và bản Xốp Lau, xã Mường Ải. Trong 2 năm thực hiện, dự án đã tiến hành xây dựng mô hình sản xuất lúa nước vụ Xuân với 3 giống lúa mới: Nhị ưu 838, Khang Dân 18, lúa nếp N97; Chuẩn bị đầy đủ vật tư như giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật…; Lắp đặt 25m ống nhựa ở bản Xốp Lau và sửa chữa 234m mương dẫn nước tại bản Pủng để dẫn nước ra đồng, vì vậy, hệ thống mương cấp nước đã chủ động trong việc tưới nước cho cây lúa, đảm bảo đủ nước cho cây lúa vụ Xuân; Tiến hành làm đất, gieo mạ, cấy, chăm sóc lúa và thu hoạch sản phẩm; Theo dõi mô hình và thu thập số liệu xây dựng mô hình.
Kết quả cho thấy: năng suất lúa vụ Xuân 2009 cao hơn vụ Xuân 2008, như: Nhị ưu 838 đạt 4,65 tấn/ha năm 2009, cao hơn 0,32 tấn/ha so với năm 2008 (đạt 4,33 tấn/ha); Nếp N97 đạt 3,65 tấn/ha năm 2009, cao hơn 0,6 tấn/ha so với năm 2008 (đạt 3,05 tấn/ha); Khang dân 18 đạt 3,87 tấn/ha năm 2009, cao hơn 0,19 tấn/ha so với năm 2008 (3,68 tấn/ha). Do vụ Xuân 2008, đồng bào mới bắt đầu tổ chức sản xuất lúa nước vụ Xuân vụ đầu và gặp thời kỳ rét đậm, rét hại nên ảnh hưởng sức sống và sự phát triển của cây mạ.
Sau 2 năm triển khai thực hiện, mô hình trồng lúa vụ Xuân tại xã Mường Ải đã thu được 23,23 tấn thóc.
3. Xây dựng mô hình thủy điện nhỏ
Để đáp ứng nguồn điện năng cho thắp sáng và hoạt động của 3 đơn vị hành chính của xã Mường Ải, dự án đã mua sắm vật tư, lựa chọn 3 điểm gần trụ sở UBND xã, trường THCS và trạm xá xã thuộc nguồn nước sông Nậm Típ để đắp đập ngăn tách dòng chảy, tạo cột áp 80-130cm và tiến hành lắp đặt, vận hành thử máy thủy điện nhỏ theo quy trình hướng dẫn của Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH-CN Nghệ An. Do điều kiện tự nhiên và những đặc điểm riêng của sông Nậm Típ, để phát huy tối đa công suất của máy, dự án đã mạnh dạn thay đổi một số chi tiết và thiết kế lại hệ thống máng dẫn nước cho phù hợp. Kết quả đã xây dựng, lắp đặt được 3 máy thủy điện với công suất mỗi máy 2,2KW/h phục vụ các tổ chức đơn vị hành chính trên địa bàn xã: 1 máy phục vụ cho UBND xã; 1 máy phục vụ khu tập thể thầy cô và hội trường nhà trường THCS; 1 máy phục vụ khu tập thể cán bộ nhân viên, phòng bệnh nhân và phòng làm việc của y bác sỹ trạm xá xã. Đồng thời, tập huấn về quy trình kỹ thuật ứng dụng thủy điện nhỏ cho cán bộ UBND xã, trạm xá và thầy cô giáo bao gồm: nguyên lý chung, phương pháp lựa chọn địa điểm, kỹ thuật lắp đặt, những điểm cần chú ý khi vận hành, bảo dưỡng và những sửa chữa nhỏ về máy móc.
4. Kết quả hỗ trợ ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ quản lý điều hành
Phòng NN&PTNT huyện Kỳ Sơn đã phối hợp với Trung tâm dạy nghề huyện Kỳ Sơn đào tạo nâng cao trình độ tin học văn phòng cho 2 cán bộ văn phòng của UBND xã Mường Ải. Sau khóa học, 2 cán bộ đều được Trung tâm dạy nghề huyện Kỳ Sơn cấp Chứng chỉ tin học văn phòng.
Song song với việc đào tạo, dự án đã kí hợp đồng với Công ty TNHH thương mại & dịch vụ Hồng Hà mua sắm một bộ máy vi tính và máy in, lắp đặt vận hành cho UBND xã Mường Ải. Máy hoạt động tốt và đã trợ giúp đắc lực cho cán bộ xã về công tác chuyên môn.
5. Hiệu quả kinh tế - xã hội
* Hiệu quả kinh tế: Đưa thêm 1 vụ sản xuất lúa nước vào cơ cấu mùa vụ trong năm, tránh hiện tượng đói giáp hạt cho bà con nông dân xã Mường Ải, có thể sản xuất 3-4,5 tấn thóc/năm; Tăng cường cơ sở vật chất để cán bộ và nhân dân xã Mường Ải tiếp cận kiến thức KH-CN mới để từng bước cải thiện môi trường làm việc, tăng hiệu quả công tác, góp phần phát triển kinh tế - xã hội xã nhà.
* Hiệu quả xã hội: Giảm áp lực cho người dân vào rừng khai thác tài nguyên làm nghèo kiệt nguồn tài nguyên rừng, tạo vành đai bảo vệ môi trường. Góp phần ổn định an ninh quốc phòng biên giới, giảm thiểu tội phạm xã hội, nhất là buôn bán ma túy.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
- Điều kiện khí hậu, thời tiết, đất đai và người dân xã Mường Ải, huyện Kỳ Sơn có thể áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật tổ chức đưa thêm 1 vụ lúa Xuân vào cơ cấu mùa vụ trong năm đạt năng suất 3 - 4,5 tấn/ha. Các giống lúa Nhị ưu 838, Khải phong số 1, Khang dân 18, nếp N97 đều là những giống sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện khí hậu thời tiết, thổ nhưỡng xã Mường Ải.
- 3 máy thủy điện nhỏ (công suất 2,2 KW/h) hoạt động tốt, phục vụ hiệu quả đời sống sinh hoạt của người dân xã Mường Ải.
- Lắp đặt được 1 bộ máy vi tính cho UBND xã, tạo cơ sở vất chất để cán bộ xã ứng dụng công nghệ tin học văn phòng vào công tác chuyên môn.
2. Kiến nghị
Rất mong các cấp, các ngành và các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu đầu tư cơ sở vật chất và xây dựng thêm nhiều mô hình trình diễn phù hợp với điều kiện tự nhiên của xã Mường Ải./.