NGHEANDOST - THÔNG TIN KH&CN NGHỆ AN SỐ 6 - 2012
Dòng họ Nguyễn ở xã Nam Sơn và nhân vật Nguyễn Đăng Quý
Ngày đăng tin : 10/7/2012
Họ Nguyễn ở xã Đặng Sơn (nay là Nam Sơn, Đô Lương) có bề dày lịch sử hơn 500 năm, tới 15 đời. Từ Thái thỉ tổ là Nguyễn Hữu Luân định cư ở 2 thôn Nhân Hậu, Trung Thịnh đến nay đã phát triển thành 4 chi, ở nhóm vào 6 xã, trên 4 huyện: Đô Lương, Yên Thành, Anh Sơn và Tân Kỳ. Chi I: làng Nhân Hậu, xã Trung Thịnh (Nam Sơn), huyện Đô Lương; chi II: làng Dương Xuân, xã Đa Thọ (nay thuộc xã Cao Sơn), huyện Anh Sơn; chi III: làng Mỹ Ngọc, xã Minh Sơn, huyện Đô Lương chi IV: làng Nam Thôn, xã Công Thành, huyện Yên Thành… Đây là một dòng họ khá tiêu biểu, yêu nước, cách mạng, có đóng góp nhất định cho công cuộc xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước.

Thái thỉ tổ Nguyễn Hữu Luân sinh vào thời Lê - Mạc, lớn lên và trưởng thành thời Lê Trung Hưng. Ông học giỏi, thi đậu Sinh đồ, làm quan chức Xã chính xã Đặng Sơn, gồm 10 thôn: Nhân Hậu, Phú Nhuận, Xuân Như, Đặng Lâm, Đặng Thượng, Long Sơn, Lương Sơn, Khả Phong, Xuân Chi và Trung Lan. Ông còn được giao khảo thí để chọn nho sinh dự thi các khoa thi Hương ở tỉnh. Khi làm việc quan ở xã, ông tỏ rõ là người liêm khiết, chính trực, nên được dân tín phục, bầu cử làm Xã chính nhiều năm liền. Tổ thứ 2 là Nguyễn Văn Hợp; Tổ thứ 3 là Nguyễn Văn Chước. Đến đời thứ 4, ông Nguyễn Đăng Đạt, làm Xã chính, Thập Lý hầu. Đời thứ 5, ông Đăng Cự thi đỗ Sinh đồ năm Vĩnh Thịnh, nối tiếp cha làm Xã chính, có công chiêu dân, lập ấp ở Trung Lan, đổi thôn đó thành Trung Thịnh. Con trưởng Nguyễn Đăng Quý dời nhà sang ở xã Bạch Ngọc, làng Tập Phúc. Con thứ 2 là Đăng Thức. Trong số 9 người con trai của ông Thức, có Đăng Nhan nổi lên dũng lược hơn người, từng tụ quân, xây đồn ở hai xứ Cầu Đất và Khe Toà, tự xưng là Cao Thập Ca Sơn, mưu đồ chống giặc Pháp lâu dài, nhưng sự nghiệp không thành. Cùng đời thứ 5 có ông Đăng Am làm Câu đương hội, từng đi lính, rồi về quê mẹ ở Bình An thôn. Ông có công chiêu dân, lập ấp, nên sau khi mất được dân bản xứ lập đền thờ làm Thành Hoàng, gọi là Am Sơn Thành Hoàng, Nguyễn công hiển ứng tôn thần. Năm Mậu Tuất, triều Thành Thái thứ 10, triều đình ban sắc phong là “Dực bảo Trung Hưng linh phù chi thần…”. Ông Đăng Bào, tự Minh Khanh, em ông Đăng Am có công khai phá vùng đất hoang thôn Nam Lĩnh - Kim Bài, lập ấp nên được dân lập đền tôn thờ là Bí Hoàng, Nguyễn tướng công tôn thần. Lịch triều có sắc phong Thần cho ông. Dòng tộc còn có các ông Đặng Thế đi lính, mất sớm; Đăng Tại (hàng thứ 7) làm chức Cai hợp; Đăng Tiến (đời thứ 7) đi thi một lần đậu Hương cống (Nho sinh nhất cử); Đăng Các, tục gọi là ông Ba Miếu; Đăng Thác (đời thứ 9), đi lính được cấp bằng Đội trưởng. Đời thứ 9, ông tổ khảo Nguyễn phủ quân, huý là Thám, làm Lý trưởng (năm 18 tuổi), Cai tổng kiêm ký huyện. Ông là con trai út ông Đăng Hiên và là em trai Tú tài sung Bang biện Nguyễn Văn Quang. Đời thứ 10, ông Nguyễn Văn Thao, làm Phó tổng, hồi hưu, có công chiêu dân lập ấp… Dòng họ Nguyễn Đặng Sơn đã nối tiếp nhau được nhân dân tin yêu bầu đảm đương việc của thôn, xã, tổng, huyện và làm quan có đóng góp cho triều đình. Họ cũng phát huy được truyền thống hiếu học khoa cử đến đời thứ 10, 11 như Tú tài Nguyễn Văn Truật, Nguyễn Văn Quán, Nguyễn Văn Nhiên, Nguyễn Văn Thuyên và đến ngày nay, như Nguyễn Trọng Trì (Hội viên Hội văn học nghệ thuật Nghệ An)… Thời kỳ phong trào yêu nước chống Pháp và cách mạng do Đảng lãnh đạo, con cháu họ Nguyễn lại hăng hái xuất dương, có tới hàng chục người làm cộng sản bị Pháp bắt giam và hy sinh anh dũng (thời kỳ 1930-1931).

Nhân vật tiêu biểu nhất họ Nguyễn Đặng Sơn phải kể đến ông Nguyễn Đăng Quý ở đời thứ 6. Nguyễn Đăng Quý, tự là Phúc Trạch, sinh năm Chính Hoà thứ 26 (1705) ở làng Nhân Hậu, nay thuộc xã Nam Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Ông là con cụ Sinh đồ Nguyễn Đăng Cự, vốn nổi tiếng hay chữ trong làng Nho học một thời. Thân mẫu là Trần Thị Tráng, con quan Giám sinh Cẩn sự Tá lang, Đông Sơn huyện Tri huyện Trần Hồng Lượng, quê ở làng Phú Nhuận (nay thuộc xã Đặng Sơn, huyện Đô Lương).

Năm 25 tuổi, Nguyễn Đăng Quý thi đậu Hương cống và liên tục 5 khoa đều đậu thi Hội. Năm 40 tuổi dự thi Hội đậu Tam trường (như Phó bảng triều Nguyễn) và khoa Ngự  - ân khoa do vua ra đề thi (như khoa Tiến sĩ). Theo giai thoại và gia phả thì ông đã đứng tên trong số những vị đậu tiến sĩ khoa Quý Hợi - năm Cảnh Hưng thứ 4 (1743). Khoa thi này trúng được 8 người, trong đó có tên ông, nhưng tối hôm đó chúa Trịnh nằm mơ, thấy chòm sao Bắc Đẩu rơi xuống đình Quảng Văn, chỉ ứng với khoa thi lấy đậu 7 tiến sĩ. Sáng hôm sau triều đình cho rút quyển bắt thăm lấy 7 người, ông bị loại, thật oan uổng và đáng tiếc cho số phận, tài học của ông (xem thêm: Khoa bảng Nghệ An 1075-1919, Nxb Nghệ An, 2005).

Nguyễn Đăng Quý làm quan Tri huyện Đông Thành. Năm Cảnh Hưng 23 (1762) được phong Văn ngoại lang chức Khả vi Mẫu lâm trung tá Ngoại lang, Công bộ công trình, Thanh lại tư viện Ngoại lang. Năm Cảnh Hưng 26, được thăng Hiến phó sứ vi Mậu lâm lang, Thanh Hoa đẳng sứ lang hình Hiến sát sứ ty Hiến phó sứ. Năm Cảnh Hưng 27 (1766), ông đoán biết được âm mưu triều Thanh (Trung Quốc) đồng mưu với Miến Điện muốn lấn chiếm thêm đất, mở rộng bờ cõi Trung Hoa bằng chiến thuật lưới quét giăng từ Xiêm La (Thái Lan), đẩy dân Nam Man, Thuỷ Chân Lạp, Chân Lạp về phía biển Đông, rồi khép lưới về Thăng Long bằng lực lượng chính của chúng và các phe đối địch sẵn sàng làm tay sai cho chúng. Ông bèn soạn 7 điều (tài liệu trong gia phả dòng họ) mật tâu lên vua Lê để triều đình có thể điều động các lực lượng nhỏ của ta chống lại lực lượng của Thanh triều và tay sai của chúng, đó là:

1. Xin dời Kinh đô về Phú Xuân;

2. Chúa Trịnh tạm dời phủ chúa về Thăng Long, cai trị và phòng giữ đất đai phía Bắc (từ sông Mã trở ra), với ưu binh mà Trịnh sẵn có;

3. Chúa Nguyễn cai trị và phòng giữ phần đất phía Nam (từ đồng Nai đến Hà Tiên) và bảo vệ các dân tộc địa phương, Chân Lạp, Thuỷ Chân Lạp, Nam Man… không để quân Tàu đồng hoá dân ta;

4. Lê triều phải chiêu dụng anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, giao cho họ quản trị Trung quân để bảo vệ triều đình và giữ gìn phần đất từ sông Mã đến Đồng Nai và cả biển Đông nữa;

5. Triều đình Lê giữ nguyên tham quyết về binh bị, kinh tế, chính trị đối với các phủ chúa và các phủ chúa phải cam kết làm tròn phận sự nói trên đối với triều đình;

6. Di 10.000 dân từ Thanh, Nghệ, Tĩnh vào khai hoang vùng Đồng Nai và các vùng phía Nam;

7. Di 3.000 dân của Quảng Bình, Quảng Trị vào Quảng Nam đến Đạt Tượng giúp Nam Man chống quân xâm lăng Tiêm La khi cần kíp.

Bảy điều tấu của Nguyễn Đăng Quý có tầm chiến lược lớn, với những ý tưởng rất sâu sắc, nhưng lúc đó quả là khó thực hiện, vì các phe phái họ tộc như Trịnh, Nguyễn khó mà bắt tay nhau vì lợi ích chung của dân tộc, đất nước. Vua Lê tỏ vẻ nghi ngờ không nghe theo ý kiến ông, ông liền dâng sớ từ quan, trở về quê nhà mở trường dạy học.

Năm Cảnh Hưng thứ 33, vua Lê, chúa Trịnh vời ông trở lại triều đình, nhưng ông từ chối. Sau khi vua Lê, chúa Trịnh có lời thừa nhận 7 điều tấu của ông là thần kế và muốn sử dụng, ông mới chịu trở lại Kinh (1773). Ông được thăng trật Tham nghị khả vi Hiến cung Đại phu Kinh Bắc đẳng sứ, Tán trị thừa Chính sứ tư thuật Tham nghị. Năm Cảnh Hưng 36, ông được phong Tham quyết chính cung bảo Đại học sĩ. Năm Cảnh Hưng 38, từ Thăng Long đi đến Thanh Hoá, ông lâm bệnh và mất tại đó. Theo lệnh triều đình, tỉnh Thanh Hoá tổ chức tang lễ trọng thể và cho rước thi hài ngài về mai táng tại làng Tập Phúc, xã Bạch Ngọc, tỉnh Nghệ An. Mộ ông đã được họ đại tôn rước về cát táng tại Hòn Minh, làng Trung Thịnh theo di chúc ngài viết khi còn sống “Sinh cư, tử quán” (sống ở nơi cư trú, chết đưa về quê quán). Năm Cảnh Hưng 44, vua Lê Hiển Tông ban sắc phong cho ông: Mỹ tự khả phong tiền triều Tham nghị Nguyễn công Phúc Trạch, Đôn tín, linh ứng, mậu đạt, Đại vương.

Dòng họ Nguyễn Văn còn lưu giữ được các bản sắc phong Thần các triều cho Nguyễn Đăng Quý. Chúng tôi xin phiên âm, dịch nghĩa 2 đạo sắc triều Nguyễn như sau:

1. Sắc phong của vua Thành Thái (phiên âm):

Sắc Nghệ An tỉnh, Anh Sơn phủ, Lương Sơn huyện, Đặng Sơn tổng, Đặng Sơn xã, Nhân Hậu thôn phụng sự Bản cảnh Thành Hoàng linh ứng chi thần. Nẫm trước linh ứng, hướng lai vị hữu, dự phong tứ kim phi thừa. Cảnh mệnh diến niệm thần hưu, trước phong vi Dực bảo Trung hưng linh phù chi thần. Nhưng cựu phụng tự, kỳ tướng hữu bảo ngã lê dân. Khâm tai.

Thành Thái lục niên, cửu nguyệt, thập ngũ nhật.

Dịch nghĩa:

Sắc cho thôn Nhân Hậu, xã Đặng Sơn, tổng Đặng Sơn, huyện Lương Sơn, phủ Anh Sơn, tỉnh Nghệ An phụng thờ thần: Bản cảnh Thành Hoàng là vị thần linh ứng. Thần trước đã linh ứng, nay vẫn thế, xứng đáng được ban phong. Thừa mệnh trên nghĩ đến công lao của Thần, đã phong là Dực bảo Trung hưng linh phù chi thần. Nay cho theo như trước phụng thờ, Thần hãy ra sức che chở, bảo vệ cho dân. Hãy nghe theo!

Thành Thái năm thứ 6 (1894), tháng 9, ngày 15.

2. Sắc phong của vua Khải Định (phiên âm):

Sắc Nghệ An tỉnh, Anh Sơn phủ, Nhân Hậu thôn tòng tiền phụng sự, nguyên tặng Dực bảo Trung hưng linh phù, Bản cảnh Thành Hoàng, tiền triều Tham nghị Nguyễn công, Phúc Trạch, đôn tín, mẫn đạt linh ứng tôn thần. Hộ quốc, tý dân, nẫm trước linh ứng tiết mông, cảnh mệnh sắc phong, chuẩn hứa phụng sự. Tứ kim chính trực, Trẫm tứ tuần đại khánh tiết kinh ban bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật, trước gia tặng, Đoan dung tôn thần. Đặc chuẩn phụng sự, dụng chí quốc khánh, nhi thân tự điển. Khâm tai!

Khải Định cửu niên, thất nguyệt, nhị thập ngũ nhật.

Dịch nghĩa:

Sắc cho thôn Nhân Hậu, phủ Anh Sơn, tỉnh Nghệ An theo trước phụng thờ Thần: Dực bảo Trung hưng linh phù, Bản cảnh Thành Hoàng, tiền triều Tham nghị Nguyễn công, Phúc Trạch, đôn tín, mãn đạt, linh ứng tôn thần. Thần đã che chở cho nước, phù hộ cho dân, từ trước đã linh ứng, có công lao lớn, thừa lệnh phong sắc, chuẩn hứa phụng thờ. Nay thời thịnh trực, nhân mừng thọ vua 40 tuổi, theo khánh tiết triều đình, ra chiếu ban ơn, lễ nghi long trọng thăng trật, đã gia tặng Đoan dung tôn thần. Đặc chuẩn phụng thờ theo lễ nhà nước, theo điển tích ghi chép. Vậy thay!

Khải Định năm thứ 9 (1924), tháng 7, ngày 25.

Sau khi mất Nguyễn Đăng Quý được nhân dân xây dựng đền thờ, thờ làm phúc thần, quanh năm hương hoả, nhớ ơn. Đền thờ Thần được làm bằng gỗ thiết mộc, có ba gian cung dục, kiên cố. Trong đền còn lưu di kiếm, nỏ, hộp áo, sắc rồng vua ban, hiệu bụt sơn son thiếp vàng, đại tự, câu đối, gia phả chữ Hán… Triều Nguyễn đã từng có các vua đến tham quan đền, ca ngợi công đức và công trình tương xứng với Thần. Vì đền nằm trước quốc lộ 7, nên trong kháng chiến phải thực hiện tiêu thổ và được bán cho một gia đình ở làng Phú Nhuận. Ngày nay, phía trước đền còn có cây bàng cổ thụ trên 200 năm tuổi, tán lá xum xuê che mát một vùng, nơi từng treo lá cờ của Đảng để cổ vũ cho phong trào cách mạng 1930-1931 của tổng Đặng Sơn lúc bấy giờ. Họ Nguyễn ở Nhân Hậu còn có ngôi nhà chín gian phục vụ cho các hội nghị và nơi ăn ở, huấn luyện của một Tiểu đoàn quân Pha thét Lào trong kháng chiến chống Pháp. Di tích dòng họ Nguyễn Nhân Hậu, Nam Sơn xứng đáng được tôn tạo, phục hồi và xếp hạng để phục vụ cho việc học tập, phát huy truyền thống cho con cháu và nhân dân ở địa phương./.


 

 

 

XEM CÁC BÀI TRONG SỐ NÀY
 
Dương Vân
PHỤ TRÁCH
Hải Yến
SUPPORT
Hoàng Nghĩa - Dương Hạnh
SUPPORT
038.3 564.869
538
Hôm nay : 2459
Hôm qua : 4198
Trong tháng : 123293
Tất cả : 2784095
cổng thông tin điện tử hoạt động khoa học công nghệ Nghệ An
Cơ quan thường trực: Sở Khoa Học và Công Nghệ Nghệ An.
Cơ quan trị sự: Trung tâm thông tin Khoa Học Công Nghệ và Tin Học.
Địa chỉ: Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
Điện thoại: 0383.842471 - 0383.564869
Hộp thư: thongtinkhcnnghean@gmail.com
© Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.
Giấy phép thiết lập số :96/GP-TTĐT ngày 16/05/2011 do cục quản lý phát thanh,truyền hình và thông tin điện tử cấp