NGHEANDOST - THÔNG TIN KH&CN NGHỆ AN SỐ 6 - 2012
Một số giống lúa thuần năng suất, chất lượng cao phù hợp với điều kiện sinh thái ở Nghệ An
Ngày đăng tin : 10/7/2012
Là tỉnh có diện tích lớn thuộc vùng Bắc Trung Bộ, chạy dài từ chân dãy Trường Sơn dốc ra phía biển Đông nên Nghệ An có đặc điểm khí hậu, đất đai phức tạp và đa dạng, từ đó hình thành các tiểu vùng sinh thái khác nhau: Tiểu vùng sinh thái trung du miền núi (gồm các huyện Thanh Chương, Tân Kỳ, Anh Sơn, Nghĩa Đàn, Kỳ Sơn, Tương Dương, Quỳ Châu, Quế Phong, Quỳ Hợp); Tiểu vùng sinh thái đồng bằng, ven biển (gồm các huyện Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Đô Lương...). Vì vậy, việc nắm vững những đặc điểm, quy luật thời tiết, khí hậu, đất đai của các tiểu vùng để tuyển chọn, bổ sung vào cơ cấu giống của tỉnh các giống lúa mới năng suất cao, chất lượng tốt và bố trí mùa vụ hợp lý, phòng tránh thiên tai nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất là rất quan trọng và cần thiết.

1. Kết quả điều tra sơ bộ tình hình sản xuất lúa ở Nghệ An

Kết quả điều tra về cơ cấu giống lúa của Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm tại Nghệ An gần đây cho thấy: Về tỷ lệ cơ cấu các giống lúa đang được nông dân gieo trồng thì lúa lai có nguồn gốc Trung Quốc chiếm 70-75% tổng số diện tích trồng lúa (chủ yếu là giống Nhị ưu 986, Q.ưu 1, Khải phong, Nghi hương 2308…). Có huyện, diện tích lúa lai trong vụ xuân lên đến 80-85% (Tân Kỳ, Đô Lương...), chỉ có khoảng 15-20% diện tích trồng các giống lúa thuần ngắn ngày (Q5, Khang dân 18, VTNA1...) và khoảng 6-8% diện tích trồng các giống thuần chất lượng cao (AC5, Bắc thơm 7, HT1…). Do các giống lúa lai chiếm tỷ lệ cao nhưng hầu hết là giống nhập nội nên không chủ động được nguồn giống; các giống lúa thuần chất lượng không cao và có nhiều biểu hiện sâu bệnh nặng; diện tích trồng các giống lúa chất lượng như AC5, IR352, HT1, BT7… không nhiều nên hạn chế việc khai thác hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích trong sản xuất lúa gạo của Nghệ An. Qua đó, có thể thấy nhu cầu phát triển lúa thuần năng suất và chất lượng cao làm gạo hàng hoá là rất lớn.

Trong cơ cấu các giống lúa của Nghệ An, giống lúa thuần ngắn ngày (chủ yếu là Khang dân, Q5...) có thời gian sinh trưởng từ 125-130 ngày vụ xuân muộn, 95-105 ngày vụ hè thu, năng suất đạt 2,5-2,7 tạ/sào Trung bộ, thường được bố trí cấy vào chân đất làm cây vụ đông để tăng vụ, mức độ sâu bệnh hại trung bình, phẩm chất gạo bình thường, cơm cứng. Các giống lúa chất lượng (như HT1, AC5, BT7…) có thời gian sinh trưởng từ 130-135 ngày vụ xuân, 110-115 ngày vụ hè thu, năng suất đạt 2,2-2,4 tạ/sào Trung bộ, phẩm chất gạo tốt, cơm ngon, dẻo và thơm được sử dụng ăn hàng ngày và một phần nhỏ để bán, thường được bố trí ở chân đất vàn hoặc đất vàn cao để có thể trồng cây vụ đông. Các giống lúa lai được gieo cấy rộng rãi trong cả 2 vụ, năng suất bình quân 3,3-3,5 tạ/ha, chất lượng gạo trung bình, dùng để phục vụ chăn nuôi và chế biến hàng hoá.

Do đặc điểm của thời tiết khí hậu phức tạp nên cơ cấu mùa vụ của Nghệ An có 2 trà là hè thu và mùa chính vụ. Lúa hè thu chiếm tỷ lệ lớn, có thể thâm canh các giống năng suất cao, chất lượng tốt, thời gian sinh trưởng 105-110 ngày. Đặc biệt, có một bộ phận diện tích lúa hè thu chạy lụt (khoảng 2.000ha) nằm phần lớn tại huyện Hưng Nguyên và rải rác ở các huyện Đô Lương, Diễn Châu, Nghi Lộc... cần phải cơ cấu các giống cực ngắn (≤105 ngày) để kịp thu hoạch trước mùa mưa lũ.

2. Kết quả khảo nghiệm sản xuất một số giống lúa thuần năng suất và chất lượng cao ở Nghệ An

2.1. Kết quả khảo nghiệm sản xuất vụ hè thu 2010 và vụ xuân 2011

Trong 2 vụ hè thu 2010 và xuân 2011, bộ giống lúa mới có triển vọng do Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm lai tạo, chọn lọc được tiến hành khảo nghiệm, trong đó có nhiều giống lúa đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) công nhận giống chính thức và cho phép sản xuất thử nghiệm diện rộng ở miền Bắc và miền Trung. Bao gồm 2 nhóm giống: Nhóm giống năng suất cao: SH63, SH14, SH2 (XT27), PC6, PC10 (đối chứng với KD18); Nhóm giống năng suất khá, chất lượng cao: HT6, HT9, T10 (đối chứng là BT7). Địa điểm khảo nghiệm tại huyện Đô Lương (tiểu vùng sinh thái đồng bằng ven biển) và huyện Tân Kỳ (tiểu vùng sinh thái trung du miền núi) của tỉnh Nghệ An. Kết quả cho thấy:

- Về đặc điểm hình thái: Các giống thuộc nhóm năng suất cao có dạng hình gọn, lá xanh, có khả năng thâm canh cao. Đặc biệt, SH63, SH14 có dạng hình bông to, nhiều hạt. Tuy nhiên, SH63 bông rất to nên dễ bị đổ trong vụ hè thu.

Các giống thuộc nhóm chất lượng cao thì cây cứng lá gọn hơn BT7, đẻ nhánh trung bình khá, chiều cao cây trung bình, lá xanh. T10 và HT9 lá có mùi thơm nhẹ từ thời kỳ mạ, hạt thon dài, màu nâu. Riêng T10, hạt màu nâu đậm, nhỏ hơn hạt HT6 và HT9.

- Về khả năng chống chịu: Phần lớn các giống có tính chống đổ ở mức trung bình, bị nhiễm rầy trung bình đến nhẹ, riêng PC10 không bị nhiễm rầy nâu.

- Về khả năng sinh trưởng và phát triển: Giống PC6 có thời gian sinh trưởng ngắn, có thể gieo cấy trong vùng trồng lúa hè thu chạy lũ. XT27 có thời gian sinh trưởng dài nhất, trổ sau giống đối chứng từ 3-4 ngày. Các giống khác có thời gian sinh trưởng tương đương với KD18. Giống chất lượng HT6 và T10 có thời gian sinh trưởng tương đương BT7.

Các giống lúa đều có dạng hình lúa nửa lùn, có chiều cao trung bình dao động 94,2-105,2cm, phù hợp với điều kiện canh tác ở Nghệ An, khả năng chống đổ trung bình đến khá, riêng SH63 do bông to, gặp gió bão dễ bị đổ ngã.

Qua theo dõi 2 vụ sản xuất tại 2 vùng khác nhau cho thấy, các giống tham gia khảo nghiệm không chênh nhau nhiều về các chỉ tiêu sinh trưởng. Như vậy, có thể kết luận bộ giống khảo nghiệm có khả năng thích ứng với các tiểu vùng sinh thái tại Nghệ An.

- Về năng suất, chất lượng gạo: Trong nhóm giống lúa năng suất cao, giống SH14 có dạng hình thâm canh cao, thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất và tiềm năng suất cao hơn so với KD18 từ 8,6-25% trong vụ xuân và 9,8-12,6% trong vụ hè thu tại 2 vùng khảo nghiệm. Giống SH63 có tiềm năng và năng suất cao nhưng yếu cây, dễ đổ khi gặp mưa bão. Giống XT27 (SH2) năng suất tuy không vượt trội so với đối chứng như SH14, nhưng chất lượng gạo ngon, hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Trong nhóm giống chất lượng cao, nổi trội là HT9 và HT6, năng suất cao hơn hẳn so với BT7 ở cả 2 điểm khảo nghiệm (tại Nghĩa Thái, Tân Kỳ tăng 7,7-12,6% so đối chứng và tại Văn Sơn, Đô Lương tăng từ 12-42% so với đối chứng). Trong đó, giống HT9 có chất lượng gạo cao, mùi thơm, cơm mềm dẻo, vị đậm hơn so với HT6.

2.2. Kết quả xây dựng mô hình sản xuất thử nghiệm trong vụ hè thu 2011 và vụ xuân 2012

Từ kết quả khảo nghiệm sản xuất 2 vụ (hè thu 2010 và xuân 2011) đã xác định được các giống triển vọng tại Nghệ An. Trong vụ hè thu 2011 và vụ xuân 2012, 2 giống SH14 (đại diện nhóm lúa năng suất cao) và HT9 (đại diện nhóm giống chất lượng cao) được chọn để xây dựng mô hình sản xuất thử nghiệm tại xã Văn Sơn (huyện Đô Lương) và 2 xã Đồng Văn, Nghĩa Hoàn (huyện Tân Kỳ) với quy mô 3 ha/giống/mô hình. Kết quả cho thấy:

Vụ hè thu 2011, 2 giống SH14 và HT9 có nhiều triển vọng, năng suất hơn hẳn so với đối chứng trên cùng cánh đồng (giống SH14 tăng 15,5% và HT9 tăng 11,2% so với giống đối chứng KD18).

Vụ xuân 2012, tại xã Nghĩa Hoàn, huyện Tân Kỳ, 2 giống SH14 và HT9 được đánh giá cao: lúa trổ nhanh, tập trung, thoát cổ bông, cứng cây, chống chịu sâu bệnh khá tốt, năng suất SH14 đạt 69,5 tạ/ha, năng suất HT9 đạt 65,2 tạ/ha, giống VTNA2 (đ/c) đạt 60,9 tạ/ha.

Tại xã Văn Sơn, huyện Đô Lương, mô hình được triển khai với phương thức gieo vãi, 2 giống lúa SH14 và HT9 cứng cây, không bị sâu bệnh, năng suất SH14 đạt 80 tạ/ha, HT9 đạt 65 tạ/ha và KD18 (đ/c) đạt 72,3 tạ/ha.

Kết quả sản xuất thử trong 2 vụ tại các vùng sinh thái khác nhau cho thấy giống lúa chất lượng cao HT9 và giống lúa năng suất cao SH14 có khả năng thích ứng rộng, chống chịu với điều kiện ngoại cảnh và sâu bệnh khá tốt, chịu thâm canh và cho năng suất cao hơn các giống đối chứng từ 10-15%, có thể tham gia cơ cấu vụ xuân và vụ hè thu - mùa.

3. Giới thiệu một số giống lúa triển vọng năng suất, chất lượng cao của Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm có thể ứng dụng tại Nghệ An

3.1. Các giống lúa lai

3.1.1. Giống lúa lai 3 dòng chất lượng cao HYT100

HYT100 là giống lúa lai F1 hệ 3 dòng được lai tạo từ nguồn bố, mẹ sản xuất trong nước (25A/R100), được Bộ NN&PTNT công nhận là giống cây trồng mới theo Quyết định số 78/QĐ-TT-CLT ngày 8/4/2010.

Đặc điểm nông sinh học: Thời gian sinh trưởng trong vụ xuân là 125-130 ngày, vụ mùa là 110-115 ngày, có thể gieo cấy trà xuân muộn, mùa sớm và hè thu (HYT100 hạn chế gieo cấy trong vụ mùa đề phòng bạc lá). Chiều cao cây 95-100cm, đẻ nhánh khá, bộ lá xanh vừa, góc lá đứng, khả năng chống đổ, chịu rét và chống chịu sâu bệnh khá, chịu thâm canh, tính thích ứng rộng; trổ tập trung, bông to dài, nhiều hạt, hạt xếp sít, khối lượng 1.000 hạt từ 27-28g. Năng suất cao: vụ xuân 70-85 tạ/ha, vụ mùa 60-70 tạ/ha.

Chất lượng xay xát tốt: tỷ lệ gạo xát 69-71%. Hạt gạo dài, cơm mềm, ngon, có mùi thơm nhẹ. Giống HYT100 có chất lượng gạo cao, đã được đăng ký thương hiệu độc quyền Thiên hương HYT100.

3.1.2. Giống lúa lai 2 dòng năng suất cao, chất lượng khá HYT108

HYT108 là giống lúa lai F1 hệ 2 dòng được lai tạo từ tổ hợp lai 827S/R108. Đây là tổ hợp lai triển vọng đang được khảo nghiệm ở nhiều địa phương trong cả nước. Khả năng sản xuất hạt lai F1 thuận lợi hơn các giống lúa lai F1 hệ 3 dòng. Giống HYT108 đã được Bộ NN&PTNT cho phép sản xuất thử từ năm 2010.

Đặc điểm nông sinh học: Thời gian sinh trưởng ngắn, vụ xuân 120-125 ngày, vụ mùa 105-110 ngày, có thể gieo cấy trà xuân muộn, mùa sớm và hè thu, đặc biệt trên chân đất tăng vụ. Chiều cao cây 95-100cm, đẻ nhánh khoẻ, bộ lá xanh vừa, góc lá đứng, khả năng chống đổ, chịu rét và chống chịu sâu bệnh khá, tính thích ứng rộng; tr tập trung, năng suất cao: vụ xuân 70-80 tạ/ha, thâm canh có thể đạt 85-90 tạ/ha; vụ mùa 65-70 tạ/ha. Chất lượng gạo ngon, cơm mềm dẻo.

3.1.3. Giống lúa lai 2 dòng năng suất cao, chất lượng khá LHD6

Giống lúa lai LHD6 là tổ hợp lai 2 dòng giữa dòng mẹ bất dục đực TGMS -H20 và dòng bố RT9.

Đặc điểm nông sinh học: Thời gian sinh trưởng: vụ xuân 130-135 ngày; vụ mùa 105-107 ngày. Chiều cao cây 95-110cm, bộ lá to, dày, đứng, cứng, khả năng chống đổ tốt, chịu phân cao, thích ứng rộng, có khả năng kháng rầy nâu. Số hạt/bông từ 220-250 hạt, tỷ lệ lép 12%, khối lượng 1000 hạt là 27g. Chiều dài hạt gạo 7,2mm, hàm lượng amylose 20%, tỷ lệ gạo xát 72%. Năng suất vụ xuân có thể đạt 70-80 tạ/ha, vụ mùa khoảng 60-65 tạ/ha, chất lượng gạo tốt.

3.2. Các giống lúa thuần năng suất, chất lượng cao

3.2.1. Giống lúa năng suất cao SH14

Giống lúa SH14 được lai tạo và chọn lọc từ tổ hợp lai: Peiai64S/Newteqing/ /IR10198, được Bộ NN&PTNT cho phép sản xuất thử theo Quyết định số 215/QĐ-TT-CLT, ngày 02/10/2008, đã được khảo nghiệm cơ bản và khảo nghiệm sản xuất tại Nghệ An từ năm 2008 đến nay.

Đặc điểm nông sinh học: Thời gian sinh trư­ởng trong vụ mùa 110-115 ngày, vụ xuân muộn 135-138 ngày. Cây cao 100cm, dạng hình thân lá đẹp, sinh trưởng khoẻ và trỗ thoát nhanh, chống chịu tốt với một số loại sâu bệnh hại chính (khô vằn, rầy nâu), chịu lạnh khá, nhất là giai đoạn trỗ bông (không bị lép đầu bông nh­ư Q5 và KD18), chịu thâm canh khá, chống đổ tốt hơn giống KD18, thích ứng khá rộng với các điều kiện khó khăn. Bông lúa to, hạt xếp sít, tỷ lệ hạt chắc cao, có 170-250 hạt chắc/bông tuỳ theo điều kiện canh tác, trọng lượng 1000 hạt là 24g. Năng suất trung bình 65-70 tạ/ha/vụ, thâm canh tốt đạt 75-80 tạ/ha/vụ. Gạo trắng trong hơn Q5, tỷ lệ gạo nguyên sau khi xay xát cao, cơm mềm ngon hơn Q5, phù hợp cho chế biến hàng hoá và chăn nuôi.

3.2.2. Giống lúa năng suất, chất lượng cao HT9

Giống lúa HT9 được lai tạo và chọn lọc từ tổ hợp HT1/177, phẩm chất gạo ngon, gieo cấy được cả hai vụ trong năm (xuân muộn, mùa sớm), được Bộ NN&PTNT cho phép sản xuất thử tại miền Bắc và miền Trung theo Quyết định số 632/QĐ-TT-CLT ngày 24/12/2010, đã được khảo nghiệm cơ bản và khảo nghiệm sản xuất tại Nghệ An từ năm 2008 đến nay.

Đặc điểm nông sinh học: Thời gian sinh trưởng trong vụ mùa 105-110 ngày, vụ xuân 130-135 ngày. Chiều cao cây 100-110cm, đẻ nhánh trung bình, đạt 5-6 bông hữu hiệu/khóm, tỷ lệ hạt chắc cao 90%, hạt gạo thơm, trong. Giống chịu thâm canh khá, chống chịu khá tốt với một số loại sâu bệnh (như đạo ôn, bạc lá, rầy nâu), bị bệnh đốm nâu khi lúa thiếu dinh dưỡng. Năng suất thực thu trên diện rộng đạt 60-65 tạ/ha, khả năng năng suất trên 70 tạ/ha/vụ, thích hợp với vùng thâm canh, chịu chua, mặn.     

3.2.3. Giống lúa năng suất chất lượng cao TL6

Giống lúa TL6 được lai tạo và chọn lọc từ tổ hợp KD18/BT7, được Bộ NN&PTNT cho phép thử nghiệm sản xuất năm 2007, đã được khảo nghiệm sản xuất và sản xuất thử tại Yên Thành, Đô Lương, Diễn Châu... từ năm 2010 đến nay.

Đặc điểm nông sinh học: TL6 là giống lúa cảm ôn ngắn ngày, thời gian sinh trưởng vụ xuân 130-135 ngày, vụ hè thu 100-105 ngày. Cây cao trung bình 95-100cm, cứng cây, nhiễm bệnh đạo ôn nhẹ, chịu thâm canh, chống chịu bệnh bạc lá khá tốt. TL6 đẻ nhánh trung bình khá, số nhánh hữu hiệu trên khóm cao, bông to, hạt màu nâu sáng, đạt khoảng 150-200 hạt/bông, tỷ lệ hạt chắc cao, chất lượng gạo tốt, gạo thơm, mềm dẻo, năng suất đạt 65-70 tạ/ha/vụ, thâm canh tốt có thể đạt 70-75 tạ/ha/vụ.

3.2.4. Giống lúa thơm chất lượng cao HDT8

Giống HDT8 được chọn lọc từ tổ hợp lai Peair32/P6//HT1, sử dụng chỉ thị phân tử chọn kiểu gen thơm và công nghệ đơn bội tạo dòng thuần đơn bội kép, được Bộ NN&PTNT công nhận cho sản xuất thử từ tháng 3/2012.

Đặc điểm nông sinh học: Thời gian sinh trưởng: vụ xuân 135 ngày, vụ mùa 100-105 ngày. Năng suất trung bình: vụ xuân đạt 6,6 tấn/ha; vụ mùa đạt 5,5 tấn/ha. Hạt gạo dài, trong, không bạc bụng, cơm mềm, có mùi thơm, ăn đậm. hàm lượng amylose 15-17%, protein 9,2%. HDT8 kháng vừa với bệnh bạc lá, đạo ôn, rầy nâu, chống đổ tốt (cứng cây), chịu rét tốt, có khả năng thích ứng rộng, cho năng suất tương đối ổn định tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng, miền núi phía Bắc và các tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ, có thể gieo trồng trên chân đất vàn cao, đất trũng, khả năng chịu thâm canh cao hơn giống BT7 và HT1.

3.3. Các giống lúa thuần ngắn ngày cho vùng hè thu chạy lũ

3.3.1. Giống lúa P6ĐB

Giống P6ĐB được chọn lọc từ các dòng P6 được gây đột biến bằng đồng vị phóng xạ Coban 60, được Bộ NN&PTNT cho phép sản xuất thử từ tháng 5/2011 và thử nghiệm sản xuất trong vùng chạy lũ của Nghệ An từ vụ hè thu năm 2011 ở các huyện Đô Lương, Diễn Châu... Vụ hè thu 2012, ước tính diện tích sản xuất thử khoảng 200ha (tương đương 12 tấn giống).

Đặc điểm nông sinh học: P6ĐB là giống lúa cực ngắn ngày, thời gian sinh trưởng trong vụ xuân muộn 105-110 ngày, vụ hè thu - mùa 80-85 ngày, thích hợp cho chân đất trồng cây vụ đông sớm ở miền Bắc và vùng trồng lúa hè thu chạy lũ ở các tỉnh miền Trung với phương thức gieo thẳng hoặc mạ non 7-8 ngày tuổi (không cấy mạ được). Cây cao trung bình 95-100cm, chống đổ trung bình, chịu thâm canh khá, khả năng chịu rét khá, chống đổ trung bình, nhiễm nhẹ đạo ôn, nhiễm vừa bạc lá, rầy nâu (né tránh được bạc lá trong vụ hè thu). Năng suất trung bình đạt 50-55 tạ/ha/vụ, thâm canh năng suất có thể đạt trên 60 tạ/ha, bông to trung bình, hạt thon nhỏ, chất l­ượng gạo khá.

3.3.2. Giống lúa PC6

Giống lúa PC6 được tạo ra từ tổ hợp lai N202/DT122, được Bộ NN&PTNT công nhận là giống cây trồng mới theo Quyết định số 70/QĐ-TT-CLT ngày 14/ 3/2011.

Đặc điểm nông sinh học: Thời gian sinh trưởng: vụ xuân 120-125 ngày, vụ mùa 90-95 ngày. Chiều cao cây 90-95cm, màu lá xanh nhạt, bông to, góc độ lá đòng nhỏ, hạt xếp sít, có màu vàng đậm, dạng hạt thon dài, chiều dài hạt gạo 6,7mm, tỷ lệ dài/rộng = 3,5, khối lượng 1000 hạt từ 21-22g, số hạt/bông 160 ± 10 hạt, tỷ lệ lép thấp. PC6 có khả năng chịu rét khá, chống đổ trung bình, ít nhiễm đạo ôn, nhiễm nhẹ bạc lá và rầy nâu, cho năng suất trung bình (vụ xuân 53-57 tạ/ha, vụ mùa 50-55 tạ/ha), hạt gạo trong, không bạc bụng, cơm mềm, dẻo.

3.3.3. Giống lúa chất lượng cao Gia Lộc 102 (GL102)

Giống GL102 được chọn tạo từ các cá thể phân ly của dòng CNI9026, đã được khảo nghiệm tại Nghệ An và Hà Tĩnh từ vụ xuân 2012. Qua khảo nghiệm GL102 được đánh giá là giống lúa chất lượng cao có nhiều triển vọng

Đặc điểm nông sinh học: GL102 có thời gian sinh trưởng trong vụ xuân 111-120 ngày, trong vụ mùa 85-90 ngày, khả năng chống rét tốt, nhiễm đạo ôn cổ bông từ nhẹ đến trung bình. Chất lượng gạo thơm, dẻo, mềm, không bạc bụng, năng suất bình quân đạt 52-55 tạ/ha, tỷ lệ gạo nguyên đạt 70%, phù hợp với trà xuân muộn và vụ hè thu chạy lụt.

4. Kết luận và kiến nghị

4.1. Kết luận

Qua khảo nghiệm sản xuất từ vụ hè thu 2010 và kết quả triển khai mô hình sản xuất thử nghiệm 2 vụ (hè thu 2011 và xuân 2012) ở 2 vùng sinh thái khác nhau tại Nghệ An, có thể rút ra một số kết luận sau:

Bộ giống lúa tham gia khảo nghiệm bao gồm 2 nhóm năng suất cao và chất lượng cao có những đặc điểm hình thái, nông sinh học phù hợp với điều kiện sinh thái và khả năng thâm canh của vùng đồng bằng và trung du miền núi tại Nghệ An trong vụ xuân và vụ hè thu. Trong đó, các giống lúa có thể phát triển tại Nghệ An là SH14, HT9, HT6 và XT27. Trong đó: Giống SH14 cứng cây, cây gọn, sinh trưởng khoẻ, bông to, nhiều hạt xếp gối, khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh tốt, có năng suất cao, trung bình đạt 70 tạ/ha, thâm canh đạt trên 80 tạ/ha/vụ. Giống HT9 chịu thâm canh, chất lượng tốt, có mùi thơm, cơm ngon, dẻo, vị đậm, cho năng suất cao, trung bình đạt 60-65 tạ/ha, thâm canh đạt trên 70 tạ/ha. Giống HT6 có năng suất tương đương HT9, chất lượng khá và ít thơm hơn so với HT9. Giống XT27 năng suất tương đương KD18 nhưng chất lượng gạo ngon hơn.

4.2. Kiến nghị

- Kiến nghị UBND tỉnh Nghệ An, Sở NN&PTNT Nghệ An đưa giống HT9 và SH14 vào cơ cấu giống lúa hàng năm tại Nghệ An trong những năm tới. Xây dựng mô hình mẫu lớn để khuyến khích phát triển giống lúa năng suất, chất lượng cao.

- Kiến nghị UBND tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An tạo điều kiện kinh phí để tiếp tục khảo nghiệm sản xuất và sản xuất thử các giống lúa triển vọng năng suất, chất lượng cao của Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm như HYT100, HYT108, LHD6, TL6, HDT8, GL102... trên địa bàn tỉnh Nghệ An, đặc biệt đưa sản xuất thử giống lúa P6ĐB và PC6 vào vùng trồng lúa vụ hè thu./.

  ThS. Hoàng Quốc Chính và CS

Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm

 

 

 

XEM CÁC BÀI TRONG SỐ NÀY
 
Dương Vân
PHỤ TRÁCH
Hải Yến
SUPPORT
Hoàng Nghĩa - Dương Hạnh
SUPPORT
038.3 564.869
323
Hôm nay : 3439
Hôm qua : 5185
Trong tháng : 91893
Tất cả : 2883051
cổng thông tin điện tử hoạt động khoa học công nghệ Nghệ An
Cơ quan thường trực: Sở Khoa Học và Công Nghệ Nghệ An.
Cơ quan trị sự: Trung tâm thông tin Khoa Học Công Nghệ và Tin Học.
Địa chỉ: Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
Điện thoại: 0383.842471 - 0383.564869
Hộp thư: thongtinkhcnnghean@gmail.com
© Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.
Giấy phép thiết lập số :96/GP-TTĐT ngày 16/05/2011 do cục quản lý phát thanh,truyền hình và thông tin điện tử cấp